Giáo lý vấn đáp

LỜI TỰA

Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới, được Đức Chí Tôn khai sáng vào đầu thế kỷ XX tại Việt Nam. Với quá trình truyền đạo chỉ hơn bảy mươi năm, nhiều kinh điển, thánh giáo đã được phổ biến khá sâu rộng. Từ năm Ất Tỵ 1965, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo đã được Ơn Trên dìu dắt xương minh Giáo lý Đại Đạo trên nền tảng kinh điển Cao Đài từ thời sơ khai đến nay.

Một trong những thành quả của Cơ Quan là quyển Cao Đài Vấn Đáp này, có mục đích giới thiệu Đạo Cao Đài một cách đơn giản bằng những giải đáp căn bản về nền Đạo.

Quyển sách đã được thông qua Hội Đồng Nghiên Cứu Giáo Lý Cơ Quan sau khi sửa chữa hiệu đính nghiêm túc. Tuy nhiên những ý kiến xây dựng của chư vị sẽ góp phần hoàn chỉnh công trình này hơn nữa.

Mong rằng quyển sách giúp ích được phần nào cho mọi tín hữu đạo tâm trên đường tìm hiểu Đạo Cao Đài.

Đông Chí năm Kỷ Mão, 1999
TM. Ban Thường Vụ
Cơ Quan Phổ Thông Giáo LýĐại Đạo
Hiệp Lý Minh Đạo

CHÍ HÙNG ( Cố Hiệp Lý Minh Đạo CQPTGL Đại Đạo)

*************

TIỂU DẪN
Quyển “Cao Đài Vấn Đáp” do Ban Văn Hóa Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo biên soạn, nhằm giới thiệu tôn giáo Cao Đài một cách ngắn gọn.

Hình thức vấn đáp sẽ giúp độc giả bước đầu nắm được các nội dung quan trọng của đạo Cao Đài gồm :

I.    Sơ lược sử đạo.
II.   Cơ cấu tổ chức.
III.  Mục đích tôn chỉ.
IV.  Nghi lễ và cách thờ phượng.
V.   Giáo lý căn bản
VI.  Cách thức tu hành và giữ đạo của tín đồ.

Dĩ nhiên, bảy mươi hai câu vấn đáp không đủ giới thiệu hết hình thức lẫn nội dung của nền Đạo, nhưng tối thiểu cũng giải đáp được những câu hỏi thường gặp về đạo Cao Đài.

Rất mong nhận được nhiều ý kiến của các bậc đạo tâm thức giả, để quyển sách nhỏ nầy hoàn bị hơn khi tái bản.

Ban Biên Soạn

  CAO ĐÀI VẤN ĐÁP (72 câu)

Phần I. SƠ LƯỢC SỬ ĐẠO.

Câu 1. Đạo Cao Đài do ai sáng lập ?

Đạo Cao Đài do Đức Cao Đài Thượng Đế tức Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế mà Thiên Chúa giáo gọi là Đức Chúa Trời, sáng lập tại nước Việt Nam vào đầu thế kỷ XX qua các sự kiện chính yếu sau đây :

– Vào đầu năm 1921, qua phương tiện thông linh bằng cơ bút (giáng cơ), Đức Thượng Đế lần đầu tiên xưng danh là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” và chánh thức thâu nhận Ngài Ngô Văn Chiêu làm đệ tử đầu tiên.

– Sau khi các vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang vâng lịnh làm lễ vọng thiên cầu đạo vào ngày mùng 1 – 11 – Ất Sửu (16-12-1925); ngày 19-12-1925 Đức Thượng Đế giáng cơ mừng cho các Ông :

“Mừng nay gặp gỡ Đạo Cao Đài”

Đêm Lễ Giáng Sinh 24-12-1925, Ngài giáng cơ dạy như sau:

“Ngọc Hoàng Thượng Đế Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương,

“Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân thiên;
Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.”
(TNHT, QI,1973, tr.5)
Vậy Đạo Cao Đài do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế tức Đức Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát sáng lập.

Câu 2. Người đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài là ai?

Như trên đã nói, người đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài là Ngài Ngô Minh Chiêu (thế danh là Ngô Văn Chiêu) vì :

– Vào đầu năm 1920, trong một buổi cầu tiên tại nhà Ngài Ngô ở Tân An (tỉnh Long An ngày nay), có một vị tiên giáng cơ xưng là “Cao Đài Tiên Ông” mà trước đó chưa hề có ai được biết danh hiệu gồm bốn chữ này.

– Vào Trung Thu năm Canh Thân (26.9.1920), tại Hà Tiên, Ngài Ngô được biết danh hiệu “Cao Đài” lần nữa qua các câu thánh thi :

“CaoĐài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,
Linh lung vạn hộc thể quang Diêu.”

– Và vào đầu năm 1921, Đức Cao Đài chính thức thâu nhận ngài Ngô Văn Chiêu làm đệ tử đầu tiên tại Phú Quốc.

Câu 3. Đạo Cao Đài có phải là một tôn giáo đích thực?

Đạo Cao Đài là một tôn giáo chính thức và chính danh.

– Chính thức vì các vị tông đồ đầu tiên đã lập tờ Khai Tịch Đạo gởi đến chính quyền ngày 23 tháng 8 năm Bính Dần (29.9.1926);và tổ chức đại lễ Khai Minh Đại Đạo trước chính quyền và công chúng ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần 19.11.1926). Trong lễ này hàng Giáo phẩm được tấn phong và thọ lãnh Pháp Chánh Truyền của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

– Là tôn giáo chính danh vì đạo Cao Đài có đức tin nơi Đức Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng; có Giáo Hội hoàn chỉnh tại Tòa thánh để điều khiển toàn đạo; có Giáo luật và kinh sách truyền bá tôn chỉ, mục đích, giáo lý Đạo; có Giáo pháp công truyền lẫn tâm truyền; có đông đảo tín đồ và nhiều Thánh thất ở trong nước và nước ngoài.

Câu 4. Xin cho biết một số di tích và sự kiện lịch sử quan trọng thời sơ khai của Đạo Cao Đài?

4.1 Dương Đông Phú Quốc: là nơi Đức Ngô Minh Chiêu được Đức Cao Đài Thượng Đế thâu nhận làm người đệ tử đầu tiên tại Quan Am Tự vào mùng 1 Tết Tân Dậu (08.2.1921) và được nhận lãnh dấu hiệu Thiên Nhãn lần đầu tiên vào ngày 13.3 năm Tân Dậu (20.4.1921) để làm biểu tượng thờ phượng trong Đạo Cao Đài từ ấy đến nay.

4.2. Vĩnh Nguyên Tự: tại quận Cần Giuộc tỉnh Long An, vốn là ngôi chùa đạo Minh Đường do Ngài Thái Lão Sư Lê Đạo Long thành lập. Ngày 4.3.1926 chư vị Tiền Khai Đại Đạo được lịnh Ơn Trên đến đây lập đàn cầu cơ để Ngài Lê Đạo Long (đắc quả Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn) giáng dạy các đệ tử của Ngài qui nhập Đạo Cao Đài. Đức Chí Tôn đã dùng nơi này thâu nhận những sứ đồ trung kiên làm nồng cốt, ban phong Thiên Sắc để nhận lãnh công việc khai đạo truyền bá giáo lý trong Tam Kỳ Phổ Độ.

Nơi đây cũng là nơi Đức Chí Tôn cho lập ra các kinh điển luật pháp Đạo trong buổi sơ khai.

Vĩnh Nguyên Tự (tái thiết năm 1973)

4.3. Sự kiện lập tờ Khai Tịch Đạo: Được lịnh dạy, ngày 23.8 Bính Dần (29.9.1926) chư vị Tiền Khai Đại Đạo hội họp với trên 200 tín đồ tại nhà ông Nguyễn Văn Tường ở hẽm số 237 bis đường Galliéni Saigon (nay là đường Trần Hưng Đạo, Quận I) để lập tờ Khai Tịch Đạo gởi đến chính quyền đương thời.

Về sau, từ 1938 hằng năm Thánh Thất Cầu Kho làm Lễ Kỷ niệm ngày Khai Tịch Đạo và đến nay Nam Thành Thánh Thất (số 124 – 126 đường Nguyễn Cư Trinh, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh) tiếp nối truyền thống đó, tổ chức lễ kỷ niệm vào ngày 23.8 âm lịch.

4.4. Thiền Lâm Tự (Từ Lâm Tự) tại Gò Kén (nay thuộc xã Long Thành Trung, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh). Đức Chí Tôn đã dùng nơi này Khai Minh Đại Đạo vào ngày Rằm tháng 10 Bính Dần (1926) trước quốc dân bá tánh. Đến năm 1927,Hội Thánh xây dựng Thánh Thất cũng tại làng Long Thành, trở nên Tòa Thánh Tây Ninh ngày nay.Thánh ngôn Đức Chí Tôn vào tháng 7 năm 1926 như sau:

“Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương,

“Các con nghe Thầy dạy:

Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh địa…..

Vậy thì là làng Long Thành, các con khá an lòng…

“Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi”.
(TNHT,TâyNinh,xb. 1973, tr.98)

Câu 5. Đền Thánh Tòa Thánh Tây Ninh được xây cất từ năm nào và do ai chủ trì?

Ban đầu Đền Thánh Tòa Thánh Tây Ninh được cất đơn sơ bằng tranh từ năm 1927; năm 1932 khởi sự đào móng, xây dựng qua nhiều giai đoạn đến năm 1953 mới hoàn thành mỹ mãn.

Những vị chức sắc đầu tiên của Hội Thánh như các Ngài: Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Ngọc Tương, … đều có công lớn trong việc chỉ đạo khai phá đất, rừng và kiến trúc Tòa Thánh.

Ngoài ra do nguyên tắc hành đạo của Đạo Cao Đài là “Thiên nhơn hiệp nhứt” nên công cuộc xây dựng Tòa Thánh hẳn nhiên có sự phối hợp của nhơn tâm cùng Thiên ý.

  Đền Thánh Tòa Thánh Tây Ninh

Câu 6. Xin cho biết ý nghĩa danh xưng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ?

Đại Đạo: là nguyên lý chung của mọi tôn giáo, là đường lối chung nhứt mà tôn giáo nào cũng theo đuổi để cải thiện xã hội và giải thoát tâm linh.

Tam Kỳ Phổ Độ: độ khắp nhân sanh kỳ thứ ba, tương ứng với thời đại ngày nay (kỳ thứ nhứt vào thời Thương cổ có các đấng Phục Hi, Moise… ra đời. Kỳ thứ hai có các đấng Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử, Jesus Christ, Mohamet ra đời để phổ độ nhân loại).

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là Đạo của Đức Thượng Đế lập ra trong thời kỳ phổ độ thứ ba trên tinh thần “Tam giáo qui nguyên, Vạn giáo nhứt lý” để dìu dắt loài người sống có đạo đức, biết hướng thượng và sau cùng biết tu luyện đến mức giác ngộ hoàn toàn, hiệp một được với Đức Thượng Đế.

Đạo mở kỳ ba là kỳ sau cùng, kết thúc một đại chu kỳ của vũ trụ nên có mục đích đại đồng giải thoát, tận độ chúng sanh và người giác ngộ được đại ân xá.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được gọi tắt là Đạo Cao Đài.

Câu 7. Ý nghĩa của hai chữ Cao Đài?

– Cao Đài nghĩa đen là cái đài, cái tháp cao, ám chỉ đỉnh cao nhứt của vũ trụ, là đích tiến hóa sau cùng của chúng sanh.

– Cao Đài là tá danh của Đức Thượng Đế khi mở Đạo kỳ thứ ba này, nhằm nêu lên thiên ý là Đấng Tối Cao đang đến dìu dắt nhân loại quay trở về nguồn cội cao nhứt của mình chính là Thượng Đế.

– Cao Đài cũng chính là chỗ cao nhứt trong tâm linh con người, đạo pháp gọi là Nê huờn cung trong não bộ. Đạt đến nơi đó con người có thể thông công, hiệp nhứt được với Thượng Đế là Cao Đài của vũ trụ.

Mở đầu Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển sách sưu tập những bài thánh ngôn trong thời kỳ sơ khai của đạo Cao Đài, sẽ thấy ngay hồng danh này:

“NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT Giáo Đạo Nam Phương” (Noel 1925)

Cũng trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (Q. I, TT. Tây Ninh, 1973, tr.23), vào ngày 26.4 Bính Dần (8.6.1926) có bài Thánh ngôn bằng Pháp văn xưng danh như sau:

“Cao Đài, Le Très Haut”. (Cao Đài, Đấng Tối Cao)

Ngày 28.10.1926 cũng viết: “Dieu Tout Puissant qui vient sous le nom de Cao Đài”.

(Thượng Đế toàn năng đến dưới danh hiệu Cao Đài ) (Sđd,tr.55)

Qua cách xưng danh như trên, Đức “Cao Đài” xác nhận chính Ngài là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế trên Thiên Đình.

Giáo lý Cao Đài còn giải thích danh hiệu “Cao Đài Tiên Ông Đại BồTát Ma Ha Tát” là tiêu biểu cho tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên” của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ:

Cao Đài chỉ Đạo Nho
Tiên Ông chỉ Đạo Tiên
Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chỉ Đạo Phật

Câu 8. Đạo Cao Đài có bao nhiêu Hội Thánh?

Theo diễn tiến của lịch sử đạo, Đạo Cao Đài phát triển thành các Hội Thánh sau:

8.1. Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh: Đây là Hội Thánh Cao Đài đầu tiên được chánh thức ra mắt ngay trong Đại lễ Khai Minh Đại Đạo vào ngày Rằm (15) tháng 10 năm Bính Dần (19.11.1926), đồng thời với sự ban bố Pháp Chánh Truyền (Hiến Pháp Đạo) của Đức Cao Đài Thượng Đế.

Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh lập Tòa Thánh tại làng Long Thành, quận Phú Khương, tỉnh Tây Ninh. Ngài Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt (Lê Văn Trung) thọ lệnh Chưởng Quản Tòa Thánh Tây Ninh từ ngày 15.4.1928 và được ban quyền « Quyền Giáo Tông về phần xác” bởi Đạo Nghị Định thứ nhì, ngày 3.10.Canh Ngọ (1930). Ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc đứng đầu Hiệp Thiên Đài từ khi Khai Đạo. HT. Cao Đài Tây Ninh có 358 thánh thất, 110 điện thờ Phật mẫu, phân bổ trong 34 tỉnh thành.(số liệu 2011)
Địa chỉ hiện nay của Tòa Thánh Tây Ninh: thị trấn Hòa thành, H. Hòa thành, tỉnh Tây Ninh.

8.2. Hội Thánh Minh Chơn Lý do Ngài Phối Sư Thái Ca Thanh lãnh đạo, lập nên Hội Thánh Định Tường tại Cầu Vỹ, Mỹ Tho (Tiền Giang) năm 1930. Hiện nay Hội thánh có tên Hội thánh Cao Đài Chơn Lý, gồm 42 Thánh thất, địa chỉ số 190 Nguyễn Trung Trực , xã Mỹ Phong, TP. Mỹ Tho (Tiền Giang)

Tòa Thánh Chơn Lý
(HT. Minh Chơn Lý)

8.3. Hội Thánh Tiên Thiên. Tòa Thánh Thiên Thai tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, là Tòa Thánh đầu tiên của Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên, hoàn thành vào năm 1934 do
« Thất thánh » và « Thất hiền » lãnh đạo. Đức Chí Tôn đã sắc phong Thất thánh trong hàng Chưởng Pháp và Đầu sư gồm các vị:

  • Phan Văn Tòng
  • Lê Kim Tỵ
  • Nguyễn Hữu Chính
  • Nguyễn Thế Hiển
  • Trần Lợi
  • Nguyễn Bửu Tài
  • Nguyễn Tấn Hoài

Và Thất hiền (bảy Vị Phối sư) lập nên Hội Thánh Tiên Thiên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gọi tắt là Hội Thánh Tiên Thiên.

Tòa Thánh Trung ương hiện nay đặt tại xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tức là Tòa Thánh Châu Minh. HT. Tiên Thiên hiện có 131 thánh tịnh ở rải rác 15 tỉnh thành. (số liệu năm 2011)

Tòa Thánh Châu Minh
(HT.Tiên Thiên)

8.4. Hội Thánh Minh Chơn Đạo: Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang hợp tác với các vị Cao Triều Phát, Phan Văn Thiệu thành lập tại Tòa Thánh Hậu Giang (còn gọi là Tòa Thánh Ngọc Minh) tại Thánh thất Ngọc Minh Đàn (ấp Giồng Bốm, xã Phong Thạnh, huyện Gia Rai, tỉnh Bạc Liêu (năm 1933). Năm 1954 Tòa Thánh Hậu Giang được dời về Thánh thất Ngọc Sắc, trở thành Tòa Thánh Ngọc Sắc tại Cà Mau.
Hiện nay Tòa Thánh Ngọc Sắc có 49 Thánh thất, phân bổ trong bốn tỉnh, và tỉnh Cà Mau nhiều nhứt (23 thất).

Tòa Thánh Ngọc Sắc
(Minh Chơn Đạo)

8.5. Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo do Ngài Quyền Thượng Đầu Sư Nguyễn Ngọc Tương hợp tác với Ngài Quyền Ngọc Đầu Sư Lê Bá Trang thành lập năm 1934 tại Thánh Thất An Hội số 100C đường Trương Định, khu phố 6 thị xã Bến Tre . Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo hiện có 300 Thánh thất ở 25 tỉnh thành. Bến Tre là tỉnh có nhiều thánh thất Ban chỉnh đạo nhất (61 thất)

Tòa Thánh Ban Chỉnh Đạo-Bến Tre

8.6. Hội Thánh Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý: Thánh Tòa Ngọc Kinh đặt tại Thánh thất Mông Thọ tỉnh Kiên Giang do quý Ngài Trương Minh Tòng và Tô Bửu Tài lập ra năm 1936. Ngài Tô Bửu Tài được thiên phong Ngọc Đầu Sư Chưởng Quản Hội Thánh Bạch Y. Địa chỉ hiện nay : Ấp Hòa An, xã Mông Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, có 14 Thánh thất.

Thánh Tòa Ngọc Kinh tại T. Kiên Giang

8.7. Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài tại Trung Hưng Bửu Tòa, số 63 đường Hải Phòng, Thành phố Đà Nẳng do giới hướng đạo miền Trung được lịnh Ơn Trên thành lập ngày mồng 1 tháng 6 năm Bính Thân (8-7-1956), Ngài Phối Sư Huệ Lương (Trần Văn Quế 1902-1980) là Chủ Trưởng Hội Thánh. Hiện có 60 thánh thất, 10 Cơ sở đạo, 1 thánh tịnh, 1 tu xá.

Trung Hưng Bửu Tòa
HT Truyền Giáo Cao Đài

8.8. Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan: Khoảng năm 1927 hai vị Nguyễn Hữu Phương và Nguyễn Hữu Hào từ Bình Định vào Sài Gòn nhập môn tại Thánh Thất Cầu Kho rồi về hợp tác cất Thánh thất Cao Đài tại nhà ông Phan Bồi ở Hoài Nhơn, Bình Định. Đến Rằm tháng hai Mậu Dần (1938) làm lễ Hoát Khai lập Thánh Thất Trung Ương cũng tại xã Tam Quan, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Năm 1959 (1960?) tổ chức ra mắt Hội Thánh Trung Ương Trung Việt Tam Quan (Bình Định). Danh hiệu sau cùng là Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan. Hiện có 24 thánh thất, 29 họ đạo.

Thánh Thất Trung ương
Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan

8.9. Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi: Các đệ tử của Ngài Ngô Minh Chiêu tu theo pháp môn của Ngài, không lập Thánh Thất hay Tòa Thánh, chỉ tu tịnh theo tâm pháp vô vi do Ngài Ngô Minh Chiêu truyền dạy [Sau khi Ngài tu luyện theo sự dìu dắt của Đức Cao Đài từ năm 1921 tại Phú Quốc].

Sau khi Ngài Ngô Minh Chiêu qui vị (13-3-Nhâm Thân tức 18-4-1932), các đệ tử của Ngài đã lập Tổ Đình Chiếu Minh (Thánh Đức Tổ Đình Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi ) tại số 264, đường 30 tháng 4 Thành phố Cần Thơ, hằng năm đều tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm ngày đăng thiên của Ngài Ngô.

Ngoài ra, tại mỗi địa phương, tín hữu Cao Đài Chiếu Minh lập các nhà đàn để họp mặt tu tập và truyền pháp. Từ năm 2010 lập Ban Hành Lễ Pháp Môn Trung Ương và Hội Đồng Điều Hành Pháp Môn Cao Đài Chiếu Minh (Cần Thơ)

Tổ Đình Chiếu Minh Vô Vi Tam Thanh

8.10. Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh Long Châu – Tòa Thánh Long Châu thành lập Hội Thánh năm 1956 do ông Nguyễn Văn Tự thánh danh Thiên Huyền Tâm làm Chưởng quản Cửu Trùng Đài, ông Lê Hữu Lộc thánh danh Ngọc Minh Khai làm Chơn sư Hiệp Thiên Đài, bà Từ Lý, Hội trưởng nữ phái. Tòa Thánh Long Châu tọa lạc tại xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh Long Châu chủ trương vừa tu phổ độ vừa theo tuyển độ (nội giáo tâm truyền). Các Thánh tịnh tập trung nhiều nhất ở Cần Thơ và Hậu Giang (12 thánh sở)

Tòa Thánh Long Châu
HT.Cao Đài Chiếu Minh Long Châu

Câu 9. Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo có phải là một Hội Thánh như các Hội Thánh trên đây?
– Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo chính thức khai mạc văn phòng vào ngày Rằm tháng Giêng năm Ất Tỵ (15.2.1965) , trụ sở hiện nay số 171B Cống Quỳnh, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, được Ơn Trên giao sứ mạng góp phần thống nhứt tinh thần Cơ Đạo trên cơ sở một nền giáo lý Đại Đạo thuần nhất.

Về tổ chức, Cơ Quan không lập Hội Thánh hay Thánh Thất, không thâu nhận tín đồ mà chỉ có Ban Thường Vụ và một số nhân viên làm việc trong các Ban trực thuộc. Tuy nhiên Cơ Quan vẫn hành đạo trên căn bản Pháp Chánh Truyền và Tân Luật ĐĐTKPĐ.Vị Tổng Lý Minh Đạo đầu tiên trong Ban Thường Vụ là Ngài Trần Văn Quế (Huệ Lương, 1902-1980).

Trụ sở hiện nay: số 171B đường Cống Quỳnh, Phường Nguyễn Cư Trinh, Quấn, TP.HCM.

Đường lối lập trường của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý thể hiện đầy đủ trong Huấn từ của Đức Chí Tôn :

“Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý không phải là một Chi phái, cũng không phải của một cá nhân nào hay một đoàn thể nào, mà phải là của toàn đạo, một nhịp cầu nối liền tình huynh đệ, một điện đài thâu và phát những động năng thúc đẩy cho sự thống nhứt giáo lý, tức là tinh thần vậy, để các con sẽ gặp nhau, qui nguyên ở vị trí duy nhứt, tri và hành theo chánh pháp của Đại Đạo”

Câu 10. Giữa các Phái đạo Cao Đài có những điểm đồng tương đồng và đổi khác nào?

  1. Tương đồng:
    • Cùng có một đức tin nơi Đức Cao Đài Thượng Đế lâm phàm khai đạo cứu độ nhân loại kỳ ba trong thời Hạ nguơn mạt kiếp.
    • Cùng niệm một danh hiệu của Đức Thượng Đế:”Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.
    • Thờ Thượng Đế với Thánh tượng Thiên Nhãn, thờ Tam Giáo Đạo Tổ, Tam Trấn Oai Nghiêm và các Đấng tiêu biểu cho Ngũ Chi.
    • Cùng tuân theo Pháp Chánh Truyền và Tân Luật.
    • Đồng đứng dưới danh nghĩa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, theo cùng một tôn chỉ và mục đích của Đại Đạo.
    • Đều có quá trình được các Đấng Thiêng Liêng dìu dắt qua cơ bút.
    • Cùng sử dụng đạo kỳ như nhau.
    • Tín đồ mặc đạo phục như nhau: tất cả mặc áo dài trắng; nam phái có chích khăn đen (quốc phục Việt Nam).
    • Đều có phần nội giáo và phần ngoại giáo.
  2. Một vài thay đổi về hình thức :
    • Các lễ phục.
    • Và một số thay đổi về kinh cúng thời (dâng tam bửu), kinh tang lễ.
    • Phái Chiếu Minh Vô Vi không có Giáo Hội thuộc cơ công truyền, chỉ chuyên tịnh luyện theo pháp môn do Ngài Ngô Minh Chiêu truyền lại và dìu dắt.

Câu 11. Những vị đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài là ai?

Những vị nầy gồm:

11.1. Ngài Ngô Văn Chiêu, được Đức Cao Đài nhận làm đệ tử ngày mùng 1 tháng Giêng năm Tân Dậu (08-02-1921) tại Phú Quốc. Đạo danh là Ngô Minh Chiêu.
Đây là vị đệ tử đầu tiên được đặc ân thọ pháp tu luyện trực tiếp với Đức Cao Đài qua cơ bút.

Ngài truyền đạo lại cho các đệ tử chuyên tâm tu luyện, lập thành “Phái” Chiếu Minh Vô Vi Tam Thanh.

Ngài đăng thiên vào ngày 13 tháng 3 năm Nhâm Thân (19-4-1932)

11.2. Ngài Lê Văn Trung (1875-1934) được Đức Cao Đài hóa độ ngày mùng 5-12-Ất Sửu (18-1-1926) và thọ phong Đầu Sư Thượng Trung Nhựt ngày 15 tháng 3 Bính Dần (26-4-1926) thăng lên Quyền Giáo Tông tại Tòa Thánh Tây Ninh vào ngày 30-10 Canh Ngọ (1930) đứng đầu Cửu Trùng Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Đăng thiên ngày 13 tháng 10 năm Giáp Tuất (19-11-1934).

11.3. Ngài Phạm Công Tắc (1890-1959) được thâu nhận làm đệ tử Đức Cao Đài vào ngày mùng 9 tháng 11 năm At Sửu (24-12-1925) và thọ phong Hộ Pháp ngày 15 tháng 3 Bính Dần (26-4-1926), đứng đầu Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh Tây Ninh.
Đăng thiên ngày 10-4 Kỷ Hợi (17-5-1959) tại Phnom-Penh, Campuchia

11.4. Ngài Cao Quỳnh Cư (1888-1929) được thu nhận làm đệ tử Đức Cao Đài vào ngày mùng 9-11 Ất Sửu (24-12-1925) thọ phong Thượng Phẩm trong Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh Tây Ninh ngày 15 tháng 3 năm Bính Dần (26-4-1926). Đăng thiên ngày 1-3 Kỷ Tỵ (10-4-1929)

11.5. Ngài Cao Hoài Sang (1901-1971) được thu nhận làm đệ tử Đức Cao Đài vào ngày mùng 9-11 Ất Sửu (24-12-1926)1, thọ phong Thượng Sanh trong Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh Tây Ninh ngày 15 tháng 3 năm Bính Dần (26-4-1926). Đăng thiên ngày 26-3 Tân Hợi (24-4-1971).

11.6. Ngài Vương Quan Kỳ (1880-1939) ngộ đạo nhờ sự hướng dẫn của Ngài Ngô Minh Chiêu, thượng Thánh tượng Thiên Nhãn do Đức Ngô vẽ, thờ tại nhà vào năm 1924 (nhưng không thọ pháp tịnh luyện). Ông Kỳ là mối liên lạc giữa Đức Ngô với nhóm phổ độ gồm các vị Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Cư, Đoàn Văn Bản, Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang, Lê Văn Trung.

11.7. Ngài Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951) nguyên là chủ quận Cần Giuộc, từng tu theo đạo Minh Sư, được các vị Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư xuống Cần Giuộc độ dẫn nhập môn vào Đạo Cao Đài. Ngày 17-5-Bính Dần (1926) Ngài được Ơn Trên ban phẩm Phối Sư phái Thượng, thánh danh là Thượng Tương Thanh, đến 03-7-Bính Dần Ngài được thăng Thượng Chánh Phối Sư tại Vĩnh Nguyên Tự. Vào năm 1930, Ngài tuân lệnh Đức Chí Tôn phế đời về hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh.

11.8. Ngài Lê Văn Lịch (1890-1947), nguyên trụ trì Vĩnh Nguyên Tự tại xã Long an, H.Cần Giuộc, tỉnh Long an (do thân phụ Ngài là Thái Lão Sư Lê Đạo Long tu theo chi Minh Đường sáng lập).

Vào đầu năm Bính Dần (1926) chư vị Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Nguyễn Ngọc Tương đến Vĩnh Nguyên Tự xin lập đàn cơ, được Đức Thái Lão Sư Lê Đạo Long (đã liễu đạo đắc vị Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn) giáng điển dạy Ngài Lê Văn Lịch và thân quyến nhập môn Cao Đài. Đến ngày Thiên phong 15-3-Bính Dần Ngài được Đức Chí Tôn ban ân thọ Thiên phong Đầu Sư phái Ngọc thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt.

11.9. Ngài Trương Hữu Đức (1890-1976) thọ Thiên phong Tiên Đạo Phò Cơ Đạo Sĩ ngày 15-3 Bính Dần (26-4-1926). Ngày 12-1 Đinh Mão (13-2-1927) Ngài thọ Thiên phong Hiến Pháp (thuộc Hiệp Thiên Đài). Năm 1955, Ngài bán hết sản nghiệp về Tòa Thánh chuyên lo hành đạo. Ngày 21-5 Tân Hợi (1971) Ngài đắc phong quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Ngài Trương Hữu Đức đăng tiên vào ngày 15-12 Ất Mão (15-1-1976) thọ 87 tuổi.

11.10. Ngài Lý Trọng Quí (Hồ Vinh Quí) (1872 – 1945)

11.11. Ngài Lê Văn Giảng (1883 – 1932)

11.12. Ngài Võ Văn Sang, tức Phán Sang.

11.13. Ngài Nguyễn Văn Hoài, tức Phán Hoài.

11.14. Ngài Nguyễn Trung Hậu (1892 – 1961) được Đức Cao Đài hóa độ vào cuối năm 1925, Rằm tháng 3 Bính Dần (26-4-1926 ) Ngài Nguyễn Trung Hậu thọ Thiên phong : Tiên Đạo Phò Cơ Đạo Sĩ. Đến ngày 12-1 Đinh Mão (13-2-1927) Ngài được Đức Chí Tôn ân phong Bảo Pháp (Hiệp Thiên Đài). Ngài từng làm chủ bút tạp chí “La Renue Caodaiste” (1930-1931), và nguyệt san “Đại Đồng” của Liên Hòa Tổng Hội (1932). Năm 1957, Ngài làm Giám đốc Hạnh Đường mở các khóa dạy Lễ Sanh, Giáo Hữu tại Tòa Thánh Tây Ninh. Ngài đăng tiên ngày 7-9 Tân Sửu (16-10-1961) tại tư gia. Di thể được cải táng về Tòa Thánh Tây Ninh ngày 7-9 Giáp Dần (21-10-1974).

11.15. Ngài Đoàn Văn Bản: Ngài nguyên là đốc học (hiệu trưởng) trường tiểu học Cầu Kho (nay là trường trung học phổ thông Trần Hưng Đạo ở đường Trần Hưng Đạo, Quận I, Tp. HCM), được Ngài Vương Quan Kỳ mời hầu đàn cơ và ngộ đạo. Sau đó do lời khuyên của vị này, Ngài đã hiến tư gia làm nơi lập đàn cầu cơ (vào cuối năm 1925). Từ đó nơi này trở thành Thánh thất Cầu Kho.

PHẦN II. TỔ CHỨC ĐẠO CAO ĐÀI

12. Pháp Chánh Truyền là gì?

Pháp Chánh Truyền là bản thánh huấn của Đức Thượng Đế giáng cơ ban bố trong đại lễ Khai Minh Đại Đạo vào ngày 16-10-Bính Dần(20-11-1926) tại Từ Lâm Tự (Thiền Lâm Tự) tức chùa Gò Kén tỉnh Tây Ninh. Pháp Chánh Truyền qui định các cấp chức sắc lãnh đạo Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cùng với nhiệm vụ, quyền hạn và nguyên tắc công cử từng cấp. Pháp Chánh Truyền mang tính Hiến pháp của Đạo, định ra cơ chế lập luật, thi hành luật, đường lối lãnh đạo và quản trị tín đồ.

13. Tân luật là gì?

Tân luật là bộ luật đạo do chư vị Tiền Khai Đại Đạo vâng lịnh Thiêng Liêng dựa theo Thánh ngôn của Đức Chí Tôn và các luật tôn giáo xưa mà soạn ra, và được Ơn Trên giáng cơ phê chuẩn. Tân luật được ban hành năm 1927.

Nội dung Tân Luật gồm ba phần chính:
– Phần Đạo Pháp
– Phần Thế Luật
– Phần Tịnh Thất

a. Phần Đạo Pháp tức cơ chế tổ chức Đạo: qui giới, cách giáo huấn và kỹ luật đạo. Phần này gồm có tám chương, 32 điều trong đó chương I “Về chức sắc cai trị trong đạo” hoàn toàn dựa theo Pháp Chánh Truyền, chỉ diễn giải thêm chút ít.
b. Phần Thế Luật qui định những đức tính của người tín đồ và các luật liên quan đến cuộc sống ở đời như kết hôn, tang tế, tương trợ, sinh kế, giáo dục con cái… Thế luật có 24 điều.
c. Phần Tịnh Thất qui định các điều kiện để tín đồ được vào nhà tịnh học và hành phép nhập tịnh tham thiền. Phần này cũng qui định các nguyên tắc sinh hoạt của tịnh viên trong tịnh thất nhằm giữ cho thân tâm an định và tu học tinh tấn. Tịnh thất có tám điều.

14. Cơ cấu tổ chức căn bản của Đạo Cao Đài như thế nào ?

Cơ cấu của Đạo Cao Đài gồm:

– Bát Quái Đài: Phần vô hình của Đạo

– Hiệp Thiên Đài: Phần bán vô hình, bán hữu hình của Đạo.

– Cửu Trùng Đài: Phần hình thể của Đạo

Cả ba Đài hiệp thành Thánh Thể của Đức Chí Tôn.

Pháp Chánh Truyền và Tân Luật qui định tổ chức Đạo Cao Đài.

15. Quyền năng của Bát Quái Đài?

Bát Quái Đài nắm quyền siêu rỗi do Đức Chí Tôn điều ngự với sự phò tá của các Đấng Phật, Tiên, Thánh, Thần. Cơ cấu chưởng quản là các Đấng Tam Giáo Đạo Tổ (Đức Thích Ca Như Lai, Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử); các Đấng Tam Trấn (Đức Đại Tiên Trưởng Thái Bạch Kim Tinh, Đức Quán Thế Am Bồ Tát, Đức Quan Thánh Đế Quân); Đức Gia Tô Giáo Chủ và Đức Khương Thái Công.

Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Bát Quái Đài là phần Thiên, điều khiển cơ cứu độ Kỳ ba bằng thế Thiên Nhơn Hiệp Nhứt cùng với Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài.
16. Cửu Trùng Đài được tổ chức ra sao, có chức năng gì ?

Cửu Trùng Đài là tổ chức hữu hình của Đạo, từ trên xuống dưới gồm 9 phẩm:

1- GIÁO TÔNG : 1 vị
2- CHƯỞNG PHÁP : 3 vị
3- ĐẦU SƯ : 3 vị
4- PHỐI SƯ : 36 vị
(trong đó có 3 vị Chánh Phối Sư)
5- GIÁO SƯ : 72 vị
6- GIÁO HỮU : 3.000 vị
7- LỄ SANH : Vô số
8- CHỨC VIỆC (Chánh trị sự,
Phó trị sự, Thông sự) : Vô số
9- TÍN ĐỒ : Vô số

Các phẩm Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu Sư vừa có quyền lập pháp, vừa có quyền hành pháp. Từ phẩm Phối Sư trở xuống chỉ có quyền hành chánh.
Cửu Trùng Đài Nữ Phái chỉ có từ phẩm Đầu Sư trở xuống.

(Xin xem thêm chức năng Cửu Trùng Đài ghi nơi Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài.)

17. Hiệp Thiên Đài được tổ chức ra sao, có chức năng gì ?

Hiệp Thiên Đài có 2 chức năng:
1. Thông công giữa Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài.

2. Bảo vệ pháp luật Đạo
Hiệp Thiên Đài gồm:
HỘ PHÁP đứng đầu Hiệp Thiên Đài, hữu có Thượng Phẩm, tả có Thượng Sanh. Ba vị lãnh đạo các chi Pháp, chi Đạo, chi Thế :


Thượng Phẩm       Hộ Pháp      Thượng Sanh

Bảo Đạo                 Bảo Pháp        Bảo Thế
Hiến Đạo                Hiến Pháp      Hiến Thế
Khai Đạo                Khai Pháp       Khai Thế
Tiếp Đạo                Tiếp Pháp       Tiếp Thế

Ngoài ra còn có Thập Nhị Bảo Quân (Hàn Lâm Viện của Đạo) và Hội Thánh Phước Thiện, Bộ Pháp Chánh, Ban Thế Đạo. Xin xem phần chức năng Hiệp Thiên Đài ghi ở Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài.

18. Tổ chức Hành chánh của Đạo Cao Đài ra sao ?

Cấp Trung ương: gồm Cửu Viện:

Học Viện, Y Viện, Nông Viện
Hộ Viện, Lương Viện,Công Viện
Lại Viện, Lễ Viện, Hòa Viện.

Cấp Địa phương:
– Nhiều Tỉnh : Trấn Đạo (Giáo Sư cai quản)
– Tỉnh : Châu Đạo (Giáo Hữu cai quản)
– Quận : Tộc Đạo (Lễ Sanh cai quản)
– Xã : Hương Đạo (Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự cai quản)

19. Họ đạo là gì?
Theo Tân luật, điều 16 và 17 : Nơi nào có đông tín đồ, được chừng 500 tín đồ trở lên, thì được lập riêng một Họ, đặt riêng một Thánh thất, có một chức sắc làm đầu cai trị. Sự lập Họ phải có phép của Đức Giáo Tông và phải do nơi quyền Người. Chức sắc làm Đầu Họ Đạo ở phẩm Lễ sanh, do Hội thánh bổ nhiệm.

20. Ban Cai Quản của một Thánh Thất được tổ chức ra sao ?

Ban Cai Quản quản trị Thánh Thất và điều hành mọi đạo sự thuộc Thánh Thất.

Ban Cai Quản được họ Đạo tại Thánh Thất công cử, thường có nhiệm kỳ 2 năm. Thành phần gồm có:

– 1 Chánh Hội Trưởng (Chánh Cai Quản)
– 2 Phó Hội Trưởng, một Nam, một Nữ (Phó Cai Quản)
– 1 Từ Hàng (Thư Ký)
– 1 Phó Từ Hàng
– 1 Thủ bổn (Thủ quỷ) (Hộ Vụ)
– 1 Phó Thủ bổn
– 2 vị kiểm soát viên
Cộng chung có 9 vị.
Trực thuộc Ban Cai Quản còn có các Tiểu Ban được tổ chức theo nhu cầu đạo sự mỗi nơi, như:
– Ban Liên giao (đối ngoại)
– Ban Tạo tác (xây dựng, sửa chữa)
– Ban Trù phòng (nhà bếp)
– Ban Lễ viện hay Lễ vụ (nghi lễ)
– Ban Phổ huấn (giáo dục về giáo lý)
– Ban Nông viện hay Nông vụ (sản xuất ngũ cốc)
– Ban Công viện hay Công vụ (hoạt động công nghiệp)
– Ban Phước thiện (y tế, xã hội, tương trợ)
– Ban Học viện (tổ chức các lớp học đạo)

21. Ban Trị Sự là gì ?

Ban Trị Sự là các chức việc hành chánh hương đạo thi hành nhiệm vụ theo hệ thống hành chánh từ Hội Thánh xuống do Đức Giáo Tông thiết lập. Ban Trị Sự gồm : một Chánh Trị Sự, một Phó Trị Sự, một Thông Sự nam và một Thông sự nữ.

Chánh Trị Sự: Chánh trị sự cai quản hương đạo (xã đạo hay thiên bàn) trong hệ thống hành chánh đạo được Đức Lý Giáo Tông thành lập.
Thánh ngôn Đức Giáo Tông:

“Chánh Trị Sự là người thay mặt cho Lão (Đức Giáo Tông) làm Anh Cả của tín đồ trong địa phương của họ”.
“Chánh trị sự chăm nom giúp đỡ sự sinh hoạt của chư môn đệ của Thầy đã chịu dưới quyền người điều khiển, giúp khó, trợ nghèo, coi cả tín đồ như anh em ruột. Chánh Trị Sự là Đầu Sư em”.

– Phó Trị Sự: Phó Trị sự cũng là chức việc trong cùng địa phận với Chánh trị sự, có nhiệm vụ giúp cho Chánh Trị sự có đủ nhân sự giúp khó trợ nghèo trong địa phận. Phó Trị Sự có quyền về chính trị chớ không có quyền về luật lệ. Nếu có điều chi làm hại đến Đạo thì phải cho Thông sự hay, đặng điều chỉnh thế nào cho ổn. Phó Trị Sự là Giáo Tông em.

– Thông Sự: Thông sự là chức việc do Đức Lý Giáo Tông khuyên Hộ Pháp lập thành. Thông sự là người đồng thể (cùng cấp) với Phó Trị Sự. Người có quyền về luật lệ chớ không có quyền về Chính trị đạo. Thông sự là người của Hiệp Thiên Đài, người có quyền xem xét luật lệ, cử chỉ hành động của Phó Trị Sự mỗi việc chi làm mất lẽ công bình mà Hội Thánh không biết thì Thông Sự phải chịu trách nhiệm… Người đặng trọn quyền cùng Phó Trị Sự tìm phương giúp đỡ những người hoạn nạn, cô thế. Thông Sự là Hộ Pháp em.

22. Hoạt động của một Thánh Thất gồm những gì ?

– Cúng tứ thời hằng ngày. Vào ngày Sóc Vọng, sau lễ cúng, phổ biến tin tức, đạo sự.
– Tổ chức các ngày đại lễ của Đạo.
– Tổ chức tang lễ cho các đạo hữu quá vãng.
– Làm lễ nhập môn,lễ thượng tượng cho tín hữu mới.
– Làm phép bí tích hôn phối, tắm thánh cho trẻ sơ sinh.
– Cầu siêu, cầu an cho đồng đạo, bá tánh khi hữu sự.
– Thuyết đạo, tổ chức khóa tịnh cho tín đồ thuộc Thánh Thất.
– Hướng dẫn đạo đức cho đồng nhi lễ sĩ.
– Tổ chức các cuộc hành thiện và thiết lập các cơ sở hành thiện.
– Liên giao với các Thánh thất bạn và giao thiệp với xã hội hay chính quyền trong tư cách một đoàn thể tôn giáo.

23. Tại sao Thánh Thất còn gọi là Thánh Thể Đức Chí Tôn ?

– Thánh Thất nào cũng được cấu trúc bởi Tam đài: Bát Quái Đài, Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài.

Bát Quái Đài là tháp tám cạnh tương ứng với Thiên bàn tại Chánh điện. Về phương diện vô vi, Bát Quái Đài thuộc về quyền lực của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng có sứ mạng trong Tam Kỳ Phổ Độ, tức là phần Thiên, về Đạo pháp tương ứng với Thần.

Cửu Trùng Đài là nơi các cấp chức sắc và tín đồ đến chầu lễ hướng về Bát Quái Đài. Ở Tòa Thánh, Cửu Trùng Đài xây làm 9 cấp có ý nghĩa cửu phẩm từ thấp lên cao. Về phương diện đạo lý, Cửu Trùng Đài tượng trưng cho toàn thể chúng sanh là con cái của Thượng Đế, do nơi bản thể của Ngài hóa sanh ra. Cửu Trùng Đài còn tượng trưng cho quyền pháp của chúng sanh, tức phần Nhơn, về Đạo Pháp tương ứng với Tinh.

Hiệp Thiên Đài tiếp giáp với Cửu Trùng Đài, tương ứng với ngôi Hộ pháp được xây giữa hai tháp chuông và trống ở mặt tiền Thánh Thất. Hiệp Thiên Đài là nơi các chức sắc Hiệp Thiên Đài của Hội Thánh lập đàn cầu cơ bút để Thiêng Liêng dạy đạo. Hiệp Thiên Đài nắm giữ quyền pháp Đạo để điều hành mối Đạo, chuyển quyền pháp từ Bát Quái Đài vào Cửu Trùng Đài, nhờ đó mà Đạo vận hành được hanh thông. Về Đạo pháp, Hiệp Thiên Đài tương ứng với Khí.
Đại Đạo phải gồm đủ vô vi, hữu hình và Quyền pháp, mới sanh hóa, dưỡng dục được muôn loài và làm cho muôn loài tiến hóa. Thế nên Thánh Thất phải xây đủ Tam đài và Hội Thánh cũng được tổ chức đầy đủ thành phần để tượng trưng cho Thánh Thể Đức Chí Tôn Thượng Đế.

24. Ngày Khai Minh Đại Đạo là gì ?

Đó là ngày mà Đức Thượng Đế đã chọn để ra mắt Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trước nhân sanh.

Cuộc lễ được tổ chức tại chùa Gò Kén (Từ Lâm Tự tức Thiền Lâm Tự) thuộc làng Long Thành , huyện Hòa Thành tỉnh Tây Ninh từ đêm 14 rạng 15 tháng 10 năm Bính Dần (19-11-1926)

Các vị Chức sắc cao cấp nhứt của Đạo đã tuyên thệ nhận lãnh sứ mạng trong lễ này.
Kế đó, Pháp Chánh Truyền hay bản Hiến Pháp Đạo được Đức Thượng Đế ban bố vào ngày 16-10 Bính Dần.
Do vậy, hằng năm toàn đạo thiết lễ kỷ niệm Khai Minh Đại Đạo vào ngày Rằm tháng 10 âm lịch để ghi nhớ ngày Đức Thượng Đế chính thức cho phép Đạo ra mắt nhân sanh với một cơ cấu Hội Thánh và Pháp Chánh hoàn chỉnh.

III. MỤC ĐÍCH TÔN CHỈ CỦA ĐẠO CAO ĐÀI :

25. Mục đích của Đạo Cao Đài là gì?

Mục đích Đạo Cao Đài nhằm hoàn thiện hóa con người và xây dựng xã hội bình đẳng, thế giới đại đồng.

Về mặt tâm linh, Đạo Cao Đài có mục đích giải thoát luân hồi sanh tử.

Nói gọn, mục đích Đạo Cao Đài là “Thế đạo đại đồng, Thiên đạo giải thoát”.

26. Xin giải thích ý nghĩa “thế đạo đại đồng” ?

“Thế đạo đại đồng” tương ứng với đường lối hay phương pháp giải quyết cuộc diện nhân sinh, tạo được cuộc sống an lạc tiến bộ trong xã hội.

“Thế đạo đại đồng” nhằm mục đích thực hiện thế giới nhân loại bình đẳng, hạnh phúc không phân biệt giai cấp, đoàn thể, tôn giáo hay quốc gia dân tộc. “Thế đạo đại đồng” theo đạo Cao Đài lấy Nhân Bản làm nền tảng, trong đó nhân vị nhân quyền được tôn trọng, nhân tính được phát huy để xây dựng một thế giới văn minh đạo đức hòa bình mà người Cao Đài thường gọi là đời Thánh đức. “Thế đạo đại đồng” theo nghĩa rộng còn là tình bác ái đối với muôn loài vạn vật từ những sinh vật nhỏ nhất đến thú cầm, đến loài người, tức là cả chúng sanh.

27. Và ý nghĩa”Thiên đạo giải thoát”

Thiên đạo là Đạo pháp, là đường lối tu hành để người tu đạt được sự giải thoát toàn diện, không còn đau khổ phần thể xác hay phiền não tâm hồn tại thế gian, và xa hơn nữa được giải thoát tâm linh. Sau khi thoát xác, linh hồn người đắc quả Thiên đạo sẽ sống vĩnh viễn trong cõi thiên đàng cực lạc không còn bị luân hồi trở lại phàm trần nữa.

Muốn thế, người tu Thiên đạo phải học đạo đại thừa, tu luyện thân tâm và thực hành sứ mạng cứu độ tha nhân.

28. Tôn chỉ của Đạo Cao Đài như thế nào ?

Tôn chỉ Cao Đài là “Tam giáo qui nguyên, ngũ chi phục nhứt”. Tam giáo tức là Tam giáo đạo gồm: Nho-Thích-Lão.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ xây dựng một nền giáo lý toàn diện tức là giáo lý Đại Đạo trên nền tảng tổng hợp giáo lý Tam giáo đạo. Bởi vì Tam giáo có đủ khả năng xây dựng con người chân chính, xã hội an lạc (Nho), dạy con người biết tu dưỡng thể xác và tinh thần để sống thung dung tự tại (Lão), và giải khổ (Thích).

Do đó tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên” là đường lối để thực hiện mục đích “Thế đạo đại đồng, Thiên đạo giải thoát”.

“Ngũ chi phục nhứt”: tức Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo phục nhất. Đó là đường lối tu hành tuần tự như lên năm nấc thang. Phục nhứt có nghĩa là thống nhứt thành một hệ thống bổ sung cho nhau, hiệp thành đạo pháp nhứt quán hầu đưa người tu đạt đến mục đích. Tóm lại, tôn chỉ ĐĐTKPĐ là đường lối tổng hợp nhất quán cứu cánh hoàn thiện và giải thoát nhân sanh của vạn giáo.

29. Ý nghĩa của tiêu ngữ “Vạn giáo nhất lý” ?

Song song với tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên ngũ chi phục nhứt”, Cao Đài còn nêu lên tinh thần “vạn giáo nhứt lý”.

Qua tiêu ngữ này, Cao Đài công nhận mục đích cứu cánh của tất cả tôn giáo chơn chánh có cùng một chơn lý là hướng dẫn con người sống có đạo đức, hoàn thiện hóa bản thân, hoàn thiện hóa xã hội và giải thoát linh hồn.

Từ đó Cao Đài chủ trương tôn trọng tín ngưỡng của mọi tôn giáo và nêu lên nguyên lý chung của mọi nền
giáo lý tức là giáo lý Đại Đạo khả dĩ giác ngộ nhân loại toàn cầu.

IV. NGHI LỄ VÀ CÁCH THỜ PHƯỢNG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI

30. Đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn có ý nghĩa gì ?

Thiên Nhãn có nghĩa là mắt Trời. Đức Thượng Đế đã hiện Thiên Nhãn cho người đệ tử đầu tiên là Ngài Ngô Minh Chiêu thấy để vẽ ra làm biểu tượng tôn thờ Thượng Đế.

Thánh ngôn Đức Thượng Đế có giải thích rằng:

“Thờ Thiên Nhãn là thờ Thầy.
Tại sao Thiên Nhãn là Thầy ?

Thầy có dạy trước :
“Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quang chủ tể, Quang thị thần, Thần thị Thiên, Thiên giả, ngã dã”.
Nhãn là cửa trái tim (tâm) của con người. Trái tim ấy là Tạo Hóa, tức là Thần, mà Thần là cái lý Hư Vô. Lý Hư Vô ấy là Trời vậy….

Hai con mắt của các con là nhục nhãn, tức là âm với dương thì cũng như Thái Cực là Thiên Nhãn, còn lưỡng quang là nhựt nguyệt hằng soi khăp càn khôn, cứ tuần huờn mãi, hết ngày đến đêm, hết đêm đến ngày, không bao giờ dứt sự hành tàng của Tao Hóa”

Vậy thờ Thiên Nhãn tức là thờ Trời, là trung tâm thần lực của vũ trụ, là Thái Cực hay Thượng Đế Chúa Tể càn khôn tức Đức Cao Đài.

31. Đạo Cao Đài thờ các Đấng nào?

Đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn là thờ Đức Thượng Đế, Đấng Giáo Chủ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cũng là Chúa tể Càn Khôn vũ trụ.

Dưới Đức Chí Tôn còn thờ Tam Giáo Đạo Tổ:

. Đức Thích Ca Mâu Ni – Giáo Chủ Thích Giáo
. Đức Lão Tử (hậu thân Đức Thái Thượng Đạo Tổ ) – Giáo Chủ Tiên Giáo
. Đức Khổng Thánh Tiên Sư – Giáo Chủ Nho Giáo
– Kế đến là Tam Trấn Oai Nghiêm Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là các Đấng thay mặt Tam Giáo Đạo Tổ hộ trì giữ vững cơ đạo:

. Nhứt Trấn: Đức Thái Bạch Kim Tinh Đại Tiên Trưởng
. Nhị Trấn: Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
. Tam Trấn: Đức Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân

– Ngoài ra Đạo Cao Đài còn thờ Đức Ki Tô tiêu biểu Thánh đạo và Đức Khương Thái Công tiêu biểu Thần đạo.

Tựu trung cách thờ trên thể hiện Tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt” của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ do chính Đức Thượng Đế khai mở vào thời Hạ nguơn này để tận độ chúng sanh.

32. Cách bày trí trên Thiên Bàn và ý nghĩa ra sao ?

(1)

(4)       (2)       (3)

(6)         8 – 7 – 9       (5)
(12) (10) (11)

(1). Thánh tượng Thiên Nhãn: ngay giữa Thiên bàn và ở vị trí cao nhứt
(2). Đèn Thái Cực: ngay giữa Thiên Bàn, dưới Thiên Nhãn.
(3). Hoa: bên trái Thiên Bàn (từ trong Thiên Bàn ngó ra )
(4). Quả: bên phải Thiên bàn
(5). Nước trắng (bên trái)
(6). Nước trà (bên phải)
(7-8-9) : Ba chung rượu
(10). Lư hương cắm 5 cây nhang, giữa 2 cây đèn.
(11- 12): Hai cây đèn
– Đèn Thái Cực (Thái Cực đăng) được thắp sáng liên tục trên Thiên bàn tượng trưng cho nguồn gốc của vũ trụ, là động năng nguyên thủy và vĩnh cửu phát sinh hai năng lực Âm Dương trong trời đất để hóa sinh muôn loài vạn vật.

Thái cực đăng còn tượng trưng cho tâm đăng như Kinh Đại Thừa Chân Giáo có dạy: “Ngọn đèn các con thờ chính giữa đó là giả mượn làm tâm đăng, Phật Tiên truyền Đạo cũng do đó, các con thành Đạo cũng tại đó…”
– Cặp đèn (11-12) gọi là đèn lưỡng nghi ứng với đèn Thái Cực ở giữa, bên trong, tượng trưng cho nguyên tắc hóa sanh của vũ trụ:”Thái cực sanh lưỡng nghi”.

– Hoa quả cũng xếp theo vị trí âm dương

– Nước lọc, nước trà (5-6) cũng mang ý nghĩa âm dương (trái dương, phải âm)

– Ngoài ra, Hoa – Rượu – Trà còn lần lượt tượng trưng cho Tinh – Khí – Thần
mà đạo gia gọi là Tam bửu tức ba món báu của con người.

– Lư hương với năm cây nhang tượng trưng cho nơi qui tụ của ngũ hành (Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ), còn gọi là Giới hương, Định hương, Huệ hương, Tri kiến hương, Giải thoát hương.

33. Ý nghĩa của chữ “KHÍ” nơi bàn Hộ Pháp ra sao ?

– Bàn Hộ Pháp là bàn thờ đối diện với Thiên bàn đặt ngay đầu ngoài của Thánh Thất. Tại Đền Thánh Tây Ninh đó là nơi Hộ Pháp đứng trấn đàn, bên tả có Thượng Sanh, bên hữu có Thượng Phẩm.

Phía trên bàn Hộ Pháp có họa chữ KHÍ, tiêu biểu khí Tiên Thiên hay nguyên khí của vũ trụ. Thế là trong thánh đường một đầu là THẦN của vũ trụ (Thiên Nhãn: Thượng Đế), một đầu là KHÍ của vũ trụ đối ứng nhau. Thần – Khí là căn bản của sự sống và tiến hóa của vạn vật chúng sanh.
34. Đạo Cao Đài có Kinh Thiên Đạo và Kinh Thế Đạo, xin cho biết thành phần và cách sử dụng hai bộ kinh này.

1- Kinh Thiên Đạo gồm:
1.1- Kinh cúng tứ thời mỗi ngày : Các bài Niệm hương, Khai kinh, Kinh Ngọc Hoàng Bửu Cáo, Phật Giáo Bửu Cáo, Tiên Giáo Bửu Cáo, Nho Giáo Bửu Cáo; Dâng tam bửu (hoa – rượu – trà), Ngũ nguyện.

– Ở Đền Phật Mẫu cúng tứ thời gồm : Niệm hương, Khai kinh, Phật Mẫu Chơn Kinh, Kinh xưng tụng công đức Đức Diêu Trì Kim Mẫu (đọc ngày lễ), Dâng tam bửu (hoa, rượu, trà), Ngũ nguyện.

Đúng ngày Vía các Đấng, đọc thêm kinh xưng tụng (Đức Lý Đại Tiên Trưởng, Đức Quán Thế Am, Đức Quan Thánh Đế Quân, Đức Gia Tô Giáo Chủ, Đức Khương Thái Công).
1.2- Kinh Giải bịnh, Kinh Trừ tà.
1.3- Kinh Tang lễ (từ khi hấp hối đến tẩn liệm, thành phục, đưa tang, hạ huyệt….)
1.4- Kinh Cầu siêu: cúng cửu, tiểu tường, đại tuờng; cầu siêu cho âm nhơn, kinh tế liệt sĩ.
1.5- Kinh Sám hối.
1.6- Kinh Giải oan, Kinh Nhập môn, Kinh Tắm thánh.
1.7- Kinh “Di Lạc Chơn Kinh”

2- Kinh Thế Đạo gồm :

2.1- Kinh trong các đạo sự : thuyết pháp, nhập hội, xuất hội, nhập học.
2.2- Kinh trong sống đạo hằng ngày : khi ra đường, khi trở về, khi ngủ, khi thức dậy, kinh ăn cơm, kinh ăn xong rồi.
2.3- Kinh trong hôn lễ : Kinh hôn phối
2.4- Kinh cúng các vị liễu đạo : Nguyên thủ thăng hà, thầy qui vị, con cúng cha mẹ, vợ chồng cúng nhau, cúng tổ phụ, cúng thân bằng cố hữu, huynh đệ cúng nhau.
2.5- Kinh Cứu Khổ.
35. Bài Ngũ nguyện có ý nghĩa gì ?

Bài “Ngũ nguyện “ được tín đồ Cao Đài tụng đọc sau cùng để kết thúc mỗi lễ cúng, gồm 5 câu :

1. Nam mô nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai,
2. Nhì nguyện phổ độ chúng sanh,
3. Tam nguyện xá tội đệ tử,
4. Tứ nguyện thiên hạ thái bình,
5. Ngũ nguyện thánh thất an ninh.

Ơn Trên đã tóm tắt ý nghĩa như sau:

“Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai,
Vì đời nào ngại chông gai dữ lành.

Nhì nguyện phổ độ chúng sanh,
Quyết đem hoằng giáo đạo lành giáo dân.
Tam nguyện xá tội bản thân,
Khoan dung phá chấp cổi trần vô minh.
Tứ nguyện thiên hạ thái bình,
Tịnh tâm chế động muôn nghìn trái oan.
Ngũ nguyện thánh thất bình an,
Hai ngày sóc vọng đăng đàn thuyết minh.
Trấn an tâm đạo nhân sinh,
Vai trò un đúc đức tin đạo đồng. “

36. Thế nào là tiểu đàn – trung đàn và đại đàn ?

a) Tiểu đàn: Là lễ cúng thường tại nhà hoặc tại thánh thất để cúng tứ thời hằng ngày chỉ có đọc kinh mà không có lễ nhạc, Lôi âm cổ (trống) hay Bạch ngọc chung (chuông lớn).

b) Trung đàn: Là lễ cúng trong các ngày rằm và mùng một tại một thánh thất, thánh tịnh hay ở Tòa Thánh. Lễ cúng này lớn hơn tiểu đàn nghĩa là ngoài số đồng nhi đọc kinh ra còn có nhạc. Lôi âm cổ đánh 36 tiếng rồi dứt…và Bạch Ngọc Chung cũng đánh 36 tiếng rồi dứt…trở lại 3 dùi. Trung đàn có dâng sớ nhưng không có đăng điện dâng lễ phẩm.

c) Đại đàn : Có đầy đủ cả 3 ban : lễ, nhạc, đồng nhi; lễ sĩ đăng điện dâng lễ phẩm. Có Lôi Âm Cổ và Bạch Ngọc Chung nhưng lại đánh mỗi thứ 3 hồi, mỗi hồi 12 chập, mỗi chập 12 dùi, chuông trống như nhau. Sau cùng trở lại 3 dùi mỗi thứ. Có dâng sớ. (TNHT 1973,Q.1,tr.24)

Đại đàn còn có “nhạc tấu huân thiên” – có ngoại nghi, nội nghi .

Tóm lại cúng đại đàn có đầy đủ nhạc, lễ với nội nghi- ngoại nghi – đăng điện dâng tam bửu, chuông trống đánh “Ngọc Hoàng Sấm”

Ngoại nghi : nghi thức chuẩn bị lễ phẩm trước bàn Hộ Pháp để các lễ sĩ đăng điện lên trước Thiên bàn dâng cho chủ lễ hiến cúng.

Nội nghi: nghi thức dâng lễ phẩm ngay trước Thiên bàn của vị chủ lễ.

37. Xin cho biết ý nghĩa của lễ nhập môn ?

Người tự nguyện làm tín đồ Đạo Cao Đài sẽ được làm lễ Nhập môn. “Nhập môn” tức bước vào cửa Đạo.

Lễ Nhập Môn được tổ chức tại Thánh Thất trước Thiên bàn, do vị chức sắc Đầu Họ Đạo làm chủ lễ với sự chứng kiến của thân nhân, của đồng đạo và hai người tiến dẫn.

Lễ Nhập Môn thường cữ hành sau lễ cúng ngày sóc vọng. Người nhập môn đến quì trước Thiên bàn, xưng tên họ rồi đọc lời minh thệ theo sự hướng dẫn của vị chức sắc Đầu Họ để dâng lời phát nguyện làm môn đồ của Đức Cao Đài Thượng Đế, tuân hành luật đạo và giữ đạo suốt đời.
Kế đến, vị chủ lễ làm phép bí tích cho người nhập môn là một phép rất thiêng liêng, thay mặt cho Đức Chí Tôn thâu nhận người tân tín đồ.
Chức việc tại Thánh thất có nhiệm vụ ghi danh tánh tín đồ vào sổ bộ của Thánh thất.

Sau khi nhập môn, về phần vô vi, người tín đồ sẽ được hưởng đại ân xá, nếu như luôn luôn giữ đạo, siêng năng tu hành bằng công quả, công trình, công phu để dần dần trở nên hoàn thiện, đồng thời độ dẫn lại những người chung quanh được hoàn thiện như mình.

38. Ý nghĩa của Trống Lôi Âm và Bạch Ngọc Chung?

– Bạch Ngọc : ám chỉ Bạch Ngọc Kinh, nơi Đức Thái Cực Thánh Hoàng (Thượng Đế) ngự. Chuông Bạch Ngọc hay Bạch Ngọc Chung có thể hiểu là chuông nơi Thiên Đình.

– Lôi Âm: là tiếng sấm; trống Lôi Âm hay Lôi Âm Cổ là trống sấm.

Trước khi nhập đàn hành đại lễ tại Thánh Thất, chuông trống được đánh lên theo lối trống sấm nhà chùa, nhưng mỗi chập 12 dùi, phải 12 chập một hồi, phải đủ ba hồi cộng là 36 chập gọi là Ngọc Hoàng Sấm, đây là di tích của Thích giáo (đạo Phật).

39. Xin cho biết các ngày lễ lớn trong năm của Đạo Cao Đài ?

1. Ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch: Lễ Vía Trời tức Vía Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đấng khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tức Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

2. Ngày Rằm (15) tháng Hai âm lịch: Lễ Vía Đức Thái Thượng Đạo Tổ, Giáo tổ Tiên Đạo.
3. Ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch: Lễ Vía Đức Thích Ca Mâu Ni,Giáo tổ Phật Đạo.

4. Ngày 18 tháng Tư âm lịch : Lễ Vía Đức Khương Thái Công, tiêu biểu Thần Đạo.

5. Ngày 19 tháng 02 âm lịch : Lễ Vía Đức Quán Thế Am Bồ Tát, Nhị Trấn Oai nghiêm ĐĐTKPĐ.

6. Ngày 24 tháng 02 âm lịch : Lễ Vía Đức Quan Thánh Đế Quân, Tam Trấn Oai nghiêm ĐĐTKPĐ.

7. Ngày Rằm tháng Tám âm lịch: Lễ Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn tức Đức Phật Mẫu – Đức Mẹ; đêm Rằm có Lễ Hội Yến Bàn Đào.

8. Ngày 18 tháng Tám âm lịch : Lễ Vía Đức Lý Đại Tiên Trưởng, Nhứt Trấn Oai Nghiêm, Giáo Tông Vô Vi ĐĐTKPĐ.

9. Ngày 27 tháng Tám âm lịch: Lễ Vía Đức Khổng Thánh Tiên Sư, Giáo tổ Đạo Nho.

10. Ngày Rằm tháng Mười âm lịch: Lễ kỷ niệm ngày Khai Minh Đại Đạo.

11. Ngày 25 tháng 12 dương lịch : Lễ Vía Đức Gia Tô Giáo Chủ.
Ngoài ra vào các ngày Rằm tháng Giêng, tháng Bảy, tháng Mười các Thánh Thất có cử hành Lễ Thượng nguơn, Trung nguơn, Hạ nguơn tương đối trọng thể.

40. Yến Bàn Đào là gì ?

Về mặt sử đạo, Đức Thượng Đế dạy chư vị Tiền Khai Đại Đạo thiết lễ Yến Bàn Đào lần đầu tiên vào đêm Rằm tháng Tám năm Ất Sửu (1925), để cung thỉnh Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương dự yến.

Yến gồm các lễ phẩm hoa quả và rượu, trần thiết trên một bàn tròn, chung quanh có xếp chỉnh tề chín chiếc ghế.

Chư Tiền Khai cầu Đức Mẹ Diêu Trì lâm phàm dự yến qua cơ bút. Hộ giá Đức Mẹ có Cửu Vị Tiên Nương.

Đức Mẹ cho phép chư Tiền Khai đồng dự yến và đàn nhạc trong buổi yến.

Về ý nghĩa, Đức Mẹ là ngôi Vô Cực, là ngôi Bảo Tồn, nên trong Tam Kỳ Phổ Độ, Thầy lâm phàm khai Đạo thì Đức Mẹ cũng giáng thế hộ trì dạy dỗ, un đúc các bậc thiên ân sứ mạng và hết thảy con cái nữ nam của Mẹ để được cứu độ giải thoát khổ trần.
Chư Tiền bối được đồng dự yến với Đức Mẹ và Cửu Nương có ý nghĩa Thiên nhơn đồng nhứt thể và Thiên nhơn hiệp nhứt. Nhứt là ý nghĩa “ vô vi – hữu hình đồng sứ mạng” trong Tam Kỳ Phổ Độ.

Yến Bàn Đào còn có ý nghĩa ban thưởng cho người có công trên đường hành đạo tự độ – độ tha.

41. Đạo kỳ Cao Đài như thế nào ? Xin cho biết ý nghĩa ?

– Đạo kỳ Cao Đài hình chữ nhật, gồm ba phần đều nhau của chiều dài, xếp thứ tự từ trên xuống dưới là:

– VÀNG: còn gọi là Thái Thanh, tượng trưng cho Phật Đạo.

– XANH: (xanh da trời) còn gọi là Thượng Thanh, tượng trưng cho Tiên Đạo.

– ĐỎ: còn gọi là Ngọc Thanh, tượng trưng cho Thánh Đạo (Nho)
Trên nền vàng có vẽ hình Thiên Nhãn. Dọc thẳng từ Thiên Nhãn xuống có viết sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (một mặt đạo kỳ viết chữ Việt, mặt kia viết chữ Hán)

Đạo kỳ được treo trước Tòa Thánh, Thánh Thất, Thánh Tịnh, ngay phía trên tiền sãnh.

42. Phướn hay Phướn Tam thanh là gì ?

– Phướn là một loại cờ rất dài thường treo giữa sân các đình chùa. Tại các Tòa Thánh, Thánh Thất, Thánh Tịnh đạo Cao Đài đều có dựng cột phướn trước sân để treo phướn vào các ngày đại lễ. Phướn thường có chiều dài 9 mét, 12 mét, 18 mét hoặc 36 mét; bề ngang khoảng 6 tấc (dm), kết cấu như sau:

– Nền vàng, viền xanh tua đỏ (tượng trưng Tam giáo đạo)
– Trên nền vàng ngay đầu trên của Phướn có thêu hình Thiên Nhãn.
– Thẳng hàng từ Thiên Nhãn xuống là hàng chữ thêu câu đối (thường do các đấng Thiêng Liêng ban cho), nội dung nói lên tinh thần Đại Đạo và liên hệ đến cơ đạo tại chỗ.

Phướn có hai mặt giống nhau, mỗi bên thêu một giòng chữ của hai câu đối.

43. Cổ pháp Tam giáo là gì ?
Cổ pháp là bảo vật từ xưa điển hình các quyền năng mầu nhiệm của các Đấng Thiêng liêng. Cổ pháp Tam giáo gồm :
– Bát vu : là cái bình của các tăng ni ôm đi khất thực. Bát vu tượng trưng cho cổ pháp của Phật đạo.
– Phất chủ : hay phất trần, là cây chổi quét sạch bụi trần của Tiên gia. Phất chủ tượng trưng cổ pháp của Tiên đạo.
– Sách Xuân Thu : là quyển lịch sử do Đức Khổng Tử soạn ra, trong đó hàm súc học thuyết đạo Nho của Ngài. Sách Xuân Thu tượng trưng cổ pháp của Thánh đạo.
Đạo Cao Đài dùng hình ảnh Cổ pháp Tam giáo để nêu lên tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên”

Hình Cổ pháp Tam giáo

44. Đạo Cao Đài có phép bí tích không ?

– “Bí” có nghĩa là kín đáo, có tính chất huyền nhiệm và không phổ truyền rộng rãi.
– “Tích” là dấu tích, ở đây có nghĩa là một tác động của người làm phép có ảnh hưởng quan trọng trên người thọ nhận.

Phép bí tích (sacrement) được Thiêng Liêng bí truyền cho những vị có sứ mạng cầm giữ bí pháp của Đức Chí Tôn để cứu rỗi nhân sanh. Rồi về sau vị này truyền sang vị khác trực tiếp bằng lời nói chứ không được viết thành văn. Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có tất cả 12 phép bí tích để độ sanh lẫn độ tử và mỗi phép đều có kinh riêng :

1. Phép giải oan : Phép này dùng cho người mới nhập môn cầu đạo.

2. Phép tắm thánh : Dùng cho trẻ sơ sinh từ một tháng trở lên.

3. Phép giải bệnh : Dùng cho người bệnh nặng có tâm nguyện ăn năn hối cải mọi lỗi lầm để giải bớt nghiệp thân.
4. Phép vĩnh sanh : Phép này áp dụng cho người mới trừ trần, lúc sắp tẩn liệm, vị chức sắc đến làm phép xác. Phép này độ cho người tín đồ ăn chay từ 10 ngày trở lên, được siêu thoát vào cõi thiêng liêng hằng sống vĩnh viễn.

5. Phép đoạn nghiệt : Phép này giúp cho người tín đồ lúc lâm chung, hấp hối khỏi bị vật vã dầy vò thể xác hay hoảng loạn tinh thần do oan nghiệt nhiều đời.

6. Phép tuyệt trần : Dùng cho người còn mê luyến trần ai, lúc lâm chung bộc lộ sự tiếc nuối vợ, con, tài sản… thần thức không chịu lìa thể xác, rên xiết, than thở kéo dài. Vị chức sắc sẽ cho đạo hữu đọc bài kinh “sám tỉnh mê hồn” để an ủi, giác ngộ người này trước khi làm phép tuyệt trần để linh hồn thoát xác nhẹ nhàng.

7. Phép trấn thần : Trấn là đặt vào, thần là thần lực. Phép này dùng để bảo vệ các đối tượng dưới quyền lực thiêng liêng, tránh khỏi ảnh hưởng xấu của tà khí, tà thần. Ví dụ:

– Trấn thần vào nơi thờ phượng, tượng thờ.
– Trấn thần vào nhà mới cất.
– Trấn thần vào phòng ngủ của người bị ma quỉ ám.
– Trấn thần vào đạo phục, khăn y các chức sắc.

– Trấn thần vào quan tài hay huyệt…

8. Phép hôn phối : (không bắt buộc) – Đôi tân hôn phải có đủ điều kiện đặc biệt mới được thực hiện phép này.

9. Phép đại xá – tiểu xá : do vị chức sắc cao cấp nhứt của Hội Thánh thay mặt Đức Chí Tôn ban phước lành hay làm lễ xá tội cho một cá nhân hay một tập thể.

10. Phép giải khổ : Dùng cho người gặp quá nhiều khổ nạn, tai ương.

Trước khi làm phép, vị chức sắc sẽ giảng cho đương sự luật nhân quả, phải biết sám hối, đọc kinh cứu khổ và kinh Cảm Ứng.

11. Phép Khai khiếu : Dùng cho đồng tử hay độc giả mới tập hay cho trẻ em tối dạ, hoặc người bất định tâm hồn.

12. Phép điểm đạo : do chân sư tại thế hoặc do các Đấng Thiêng Liêng điểm hóa cho người môn đồ được bước vào thiên đạo giải thoát.

45. Cơ bút Cao Đài là gì – được thực hiện như thế nào ?

– Cơ bút trong đạo Cao Đài là phương pháp thông công giữa các Đấng Thiêng Liêng trong cõi vô hình và chức sắc Hội Thánh tại thế gian. Tức là giữa Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài qua trung gian Hiệp Thiên Đài bằng phương tiện cơ bút.
– Cơ là dụng cụ đặc biệt để một hoặc hai đồng tử ( song đồng) cầm, nương vào đó viết ra thánh ngôn khi tiếp điển thiêng liêng.
– Bút là loại dụng cụ khác tựa như cây viết. Đồng tử dùng cơ gọi là “thủ cơ”, dùng bút gọi là “chấp bút”.
Có khi người đồng tử (medium) vừa thủ cơ, vừa xuất khẩu nói lời nói của thiêng liêng qua linh điển gọi là thánh ngôn.
Đồng tử là người thọ bẩm khả năng đặc biệt tiếp nhận được linh điển từ cõi vô hình khi đã ngồi yên, định thần trong một môi trường thanh tịnh.
Người đồng tử phải sống thật thanh khiết, không kết hôn và thường xuyên thiền định mới có thể tiếp nhận điển thiêng liêng trọn vẹn.
Bộ phận cầu cơ bút thuộc Hiệp Thiên Đài, có những nguyên tắc rất nghiêm cẩn phải thực hiện đầy đủ khi cầu cơ bút.
Cơ bút là một phương pháp thông linh mà phương Tây gọi là “spiritisme”.

                                                                                                                                           

V. GIÁO LÝ CĂN BẢN

46. Giáo lý Cao Đài dựa trên căn bản nào ?

Giáo lý Cao Đài xây dựng dựa trên hai nguyên lý căn bản là :

1. Thiên địa vạn vật đồng nhất thể: Trời đất vạn vật có cùng một bản thể.

2. Nhất bổn tán vạn thù, vạn thù qui nhất bổn: Một gốc phân tán ra vạn hình thức (sai biệt), vạn hình thức (sai biệt) quay về một gốc.

Từ nguyên lý thứ nhứt, giáo lý Cao Đài quan niệm Trời và Người có cùng bản thể, có thể tương thông tương ứng và hiệp nhứt được. Nên Đức Thượng Đế dạy:”Thầy là các con, các con là Thầy”.
Kế đến chúng sanh cũng đồng bản thể nên phải thương yêu nhau, nhất là giữa người với người phải xem nhau như anh em một Cha, từ đó phải thực hiện mục đích đại đồng nhân loại.

-Từ nguyên lý thứ hai, giáo lý Cao Đài quan niệm vũ trụ là một trường tiến hóa có khởi điểm từ bản thể Đại Linh Quang, tức Thượng Đế, phóng phát các điểm linh quang tiềm tàng trong vạn loại để tiến hóa từ khoáng sản, đến thảo mộc, thú cầm, đến con người. Rồi từ con người đến các bậc Thiêng liêng Thần Thánh Tiên Phật để trở về hiệp nhất với Thượng Đế.
Do đó cứu cánh của con người là tiến hóa trở về với Thượng Đế, tức nguồn gốc của mình mà cũng là của vũ trụ. Muốn thế, con người phải biết tu công lập đức để hoàn hảo hóa bản thân đến mức chí chơn chí thiện. Giáo lý Cao Đài gọi đó là “Phản bổn hoàn nguyên”.
47. Đức tin về Thượng Đế của người Cao Đài ra sao ?

Người tín đồ Cao Đài trọn tin Thượng Đế là Chúa tể càn khôn vũ trụ, là Cha chung của muôn vật.
Ngài là ngôi Thái Cực, nói theo nghĩa Thượng Đế Vô Ngã và là Ngọc Hoàng Thượng Đế theo nghĩa Thượng Đế hữu ngã.

Tùy theo từng thời kỳ trong lịch sử nhân loại, Đức Thượng Đế giao sứ mạng cho các Đấng Giáo Tổ giáng phàm mở đạo để “giáo dân vi thiện”.

Đến thời này là Tam Kỳ Phổ Độ, chính Ngài giáng điển linh xuống cõi thế gian thành lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để cứu rỗi nhân loại, xây dựng đời Thánh đức. Trong Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Thượng Đế vừa là Đấng Giáo Chủ vừa là Cha vừa là Thầy của chúng sanh, Ngài cho phép tất cả các Đấng trên cõi Thiên đình cùng với Ngài đến cõi trần mở cơ tận độ kỳ mạt kiếp.

48. Xin giải thích thêm về Thượng Đế Vô ngã và Thượng Đế Hữu ngã

Giáo lý của Đạo Cao Đài dung hợp cả hai quan niệm này.
Khi nói về Thượng Đế vô ngã là nói về nguyên động lực phát sinh càn khôn thế giới, là cơ nguyên hình thành, biến hóa và vận hành vũ trụ. Theo Đạo Học, Thượng Đế vô ngã là nguyên lý sinh hóa, hủy diệt, bảo tồn của vũ trụ, trong qui luật vận động Âm Dương.
Khi nói về Thượng Đế hữu ngã là nói về chủ thể tuyệt đối, tức là Đấng Tối Cao, có quyền hành tối thượng, thống trị cả muôn loài, Ngài chưởng quản cả càn khôn thế giới.
Khái niệm hữu ngã nghiêng về khuynh hướng sùng tín, khái niệm vô ngã nghiêng về khuynh hướng triết học đều dẫn đến đức tin nơi Thượng Đế.

49. Xin cho biết Vũ trụ quan Cao Đài ?

Giáo lý Cao Đài cho rằng vũ trụ nguyên sơ là không gian Vô Cực. Từ bản thể Vô Cực phát sinh một nguyên lý và một nguyên khí ngưng kết nhau thành một khối tinh quang. Khối ấy nổ tung ra làm phát sinh Thái Cực Đại Linh Quang; Thái Cực “lấy cơ thể âm dương mà phân thanh biện trược, làm máy động tịnh để gom tụ cái Khí Hư Vô đặng hóa sanh muôn loài vạn vật”
Đó là cơ sinh hóa, tiếp theo là cơ tiến hóa của vạn vật, vì vạn vật thọ bẩm bản thể Linh Quang sẽ tiến hóa trở về hiệp với Đại Linh Quang theo qui luật “nhứt bổn tán vạn thù, vạn thù qui nhứt bổn”

50. Đại Linh Quang, Tiểu Linh quang là gì ?

Đây là những khái niệm đặc thù của Cao Đài Giáo. Như trên đã nói, vạn vật phát sinh từ Thái Cực. Thái Cực là Đại Linh Quang theo nghĩa bản thể đồng thời là bản căn của vạn vật. Còn trong ý nghĩa tâm linh, đó là khối Đại Nguyên Thần của toàn cả vũ trụ. Mỗi con người đều thọ bẩm một điểm Tiểu linh quang có cùng bản tính, bản chất với Đại Linh Quang, nên còn gọi là điểm nguyên thần chiết xuất từ Đại Linh Quang.
Tu luyện là cách con người tự vẹt tan màn vô minh bao phủ để làm sáng tỏ điểm nguyên thần ấy. Nhờ đó, khi thoát xác, Tiểu linh quang sẽ hội nhập trở lại cùng Đại Linh Quang.

Theo Cao Đài, trong chu trình tiến hóa của vũ trụ, vạn vật tiến hóa dần dần lên đến hàng nhân loại mới có đủ tam hồn là sanh hồn, giác hồn và linh hồn để tu luyện giải thoát.

51. Tân pháp Cao Đài là gì ?

Tân pháp Cao Đài là pháp môn tu hành được Đức Thượng Đế truyền dạy cho tín đồ trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Từ khi lập Đạo Cao Đài vào đầu thế kỷ này, Tân pháp có tính chất đơn giản hơn các pháp môn tu luyện xưa nay, đồng thời tổng hợp căn bản Tam giáo đạo (Nho -Thích – Lão), giúp cho người tu dễ dàng thực hành từ thấp lên cao đến mức giải thoát. Có thể nói Tân pháp Cao Đài là pháp môn thích hợp thời hạ nguơn này để tận độ chúng sanh.

Về mặt thực hành: Tân pháp dựa trên căn bản Tam công để rèn luyện thân tâm – tánh mạng.

52. Đắc nhứt là gì ?

Nhứt là lẽ Một, là Chân lý chung của vạn sự vạn vật. Đắc nhứt là được Một, là tự thấy đồng nhứt với Vũ trụ, tương ứng tương hòa với mọi đối tượng chung quanh.
Đắc nhứt trên mục đích hướng về nguồn gốc vũ trụ là hiệp nhứt được với Thượng Đế Đại Linh Quang.
Đắc nhứt trên mục tiêu giải thoát là đạt đến tâm vô phân biệt, xem mình là mọi người, mọi người là mình.
Đắc nhứt trên phương diện tu hành là kiên nhẫn trì thủ hành đạo không ngừng với một đức tin duy nhứt, với một pháp môn duy nhứt, tức là với tâm chuyên nhứt.
Đắc nhứt giữa các tôn giáo là không kỳ thị tôn giáo khác, không tự tôn tôn giáo mình, mà phải tôn trọng tất cả tôn giáo trên tinh thần vạn giáo nhứt lý. Cuối cùng Đắc Nhứt là đạt Đạo.

53. Phản bổn hoàn nguyên là gì ?

Phản là quay lại, hoàn là trở về.
Theo giáo lý Cao Đài, Tiểu linh quang được phóng phát ra từ Đại Linh Quang (Thượng Đế) thể nhập vào vạn vật để dần dần tiến hóa lâu đời nhiều kiếp mới đến địa vị làm người. Con người sẽ tiếp tục con đường tiến hóa trên giai đoạn cuối cùng để quay về với nguồn gốc khởi nguyên là Thượng Đế Đại Linh Quang. Sự quay về đó gọi là “phản bổn hoàn nguyên”, là nhập Niết bàn hay đắc Đạo.
Nhưng để trở về với Thượng Đế, với Trời, con người phải tu hành để Thiên tính nơi người ngày càng sáng tỏ đến mức hoàn toàn như Trời.
Vậy “phản bổn hoàn nguyên” là đạt đến điểm tiến hóa sau cùng, chứ không phải quay trở lại khởi điểm luân hồi.

54. Tiên Thiên – Hậu Thiên là gì ?

Tiên Thiên – Hậu Thiên nghĩa đen là trước trời đất và sau trời đất.
Trước Trời đất là trước khi có vũ trụ vạn vật. Sau trời đất là sau khi vũ trụ vạn vật được biến sanh.
Theo vũ trụ quan “Vô Cực – Thái Cực – Âm Dương” thì Tiên Thiên là bản chất của vũ trụ nguyên sơ thuộc về bản thể Vô Cực – Thái Cực. Còn Hậu Thiên là bản chất của vạn vật do âm dương tương hiệp mà thành.

Tiên thiên thì vô sanh bất diệt
Hậu thiên thì có sinh có diệt

Tu hành là quá trình thanh lọc thân tâm để hấp thụ những gì thuộc về Tiên Thiên và tự chuyển hóa tâm linh trở về bản chất Tiên Thiên, nghĩa là từ phàm thành Thánh.

55. Cao Đài quan niệm về linh hồn như thế nào ?

Cao Đài quan niệm thảo mộc có sanh hồn, thú cầm có thêm giác hồn và con người có đủ sanh hồn , giác hồn và thêm linh hồn.
Linh hồn thuộc về tâm linh vô hình hiệp với thể xác tạo nên sự sống. Thể xác sẽ hoại diệt khi con người chết, nhưng linh hồn tồn tại và tiếp tục luân hồi để sống vào kiếp khác.
Con người tiến hóa do nơi linh hồn tiến hóa.
Những biểu hiện của linh hồn gồm có Tâm, Tánh, Thần.
Tánh là linh hồn đạt đến phẩm chất sáng suốt nhất, còn thần là phẩm chất linh diệu nhất. Chỉ có bậc đắc đạo mới “kiến tánh”, mới phát huy đầy đủ “chơn thần”.

56. Nhân đạo là gì ?

Nhân đạo là đạo làm người. Thực hành nhân đạo là làm tròn bổn phận đối với bản thân, đối với gia đình và xã hội. Giáo lý Cao Đài dạy tín đồ tu nhân đạo trên căn bản Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín và Trung Hiếu.
Phải làm tròn Nhân đạo trong giai đoạn nhập thế mới có thể bước qua giai đoạn xuất thế tu đạo giải thoát, phế trần hành đạo, gọi là thực hành Thiên đạo.
57. Thiên đạo là gì ?

Thiên đạo là đường lối tu giải thoát để không còn phải luân hồi sanh tử nữa. Muốn hành Thiên đạo phải:
– Ăn chay ít nhất 10 ngày một tháng, tốt nhất là trường trai.
– Dứt tình dục.
– Cầu học đạo pháp thiền định.

Đó là những điều kiện để thọ pháp công phu tịnh luyện. Nhưng giáo lý Cao Đài dạy tín đồ luôn luôn hành đủ Tam công để người tu dễ đạt đạo giải thoát. Cho nên khi bước vào Thiên đạo, phải rèn luyện tâm hạnh đại thừa. Tức phải có tâm thanh tịnh, dứt lòng ham muốn, phải có hạnh bồ tát, bao dung cứu độ mọi người. Cho nên các hàng hướng đạo trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mặc nhiên có sứ mạng gọi là Sứ Mạng Đại Thừa một khi đã cầu tu Thiên đạo.
58.Tại sao gọi là“Tam kỳ phổ độ” ?

“ Tam Kỳ Phổ Độ” là phổ độ kỳ thứ ba. Sau kỳ thứ nhứt (Nhứt kỳ phổ độ) và kỳ thứ hai (Nhị kỳ phổ độ).

Giáo lý Cao Đài dạy rằng, trong suốt lịch sử nhân loại, Đức Thượng Đế luôn luôn từ bi cứu độ chúng sanh nên từng sai những bậc sứ giả của Ngài đến trần gian mở Đạo, tập trung vào ba thời kỳ :

Nhứt kỳ phổ độ : vào cuối Thượng nguơn, có vua Phục Hy (2852 – 2737 TTL) và vua Đại Võ (2205 – 2197 TTL) ở Trung Quốc lần lượt phát minh ra Hà Đồ, Bát Quái, Lạc Thư làm nền tảng đạo lý mà sau này Văn Vương ( sinh 1258 TTL) và Chu Công (?-1105 TTL) viết thành Kinh Dịch, dạy cả Nhân đạo và Thiên đạo. Đó là những bậc Thánh nhân khai hóa dân sanh, dân trí và dân đức.
Cũng trong thời Nhứt Kỳ này, tại xứ Palestine vùng Tây Á, vào khoảng năm 1300 TTL, Thánh Moise xuất hiện, dìu dắt dân Do Thái lánh nạn, Ngài đã lên núi Sinai thông công với Đức Chúa Trời, được Chúa truyền Mười điều răn để dìu dắt cho dân Ngài.
Nhị kỳ phổ độ : vào cuối Trung nguơn, nhiều tôn giáo xuất hiện lập thành Nhị kỳ phổ độ trong 6 thế kỷ trước TL và 6 thế kỷ sau TL như :

– Đức Thích Ca sinh năm 560 TTL tại An Độ sáng lập Phật giáo.
– Đức Khổng Tử sinh năm 551 TTL tại Trung Quốc xây dựng Nho giáo.
– Đức Lão Tử sinh cùng thời với Đức Khổng Tử tại Trung Quốc, viết bộ Đạo Đức Kinh rất thâm diệu, được tôn là Giáo chủ Lão giáo.
– Đức Jésus Christ, sinh tại Bethléhem miền Tây Á vào đầu Tây lịch, xưng là con Đức Chúa Trời xuống trần gian cứu chuộc nhân loại, lập thành Thiên Chúa giáo.
– Đức Mohamet sinh năm 571 sau Tây lịch tại La Mecque nước Ả Rập, rao giảng kinh Coran, lập nên Hồi giáo.

Tam Kỳ phổ độ : được bắt đầu vào cuối Hạ nguơn khi Đức Thượng Đế khai minh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vào năm 1926 tại miền Nam Việt Nam, do chính Ngài làm Giáo chủ vô hình, dùng phép thông linh thâu nhận tín đồ qua cơ bút, lập ra Cao Đài giáo….

59. Đại ân xá Kỳ ba là gì ?

Theo Thánh giáo Ơn Trên dạy, Đức Thượng Đế mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tức là mở đạo kỳ thứ ba ứng với Hạ nguơn sau Nhứt kỳ và Nhị kỳ Phổ độ ứng với Thượng Nguơn và
Trung Nguơn. Vì là kỳ cứu độ cuối cùng của chu kỳ Tam nguơn nên Thượng Đế đại ân xá cho chúng sanh, hễ biết tu thì được cứu vớt khỏi bị sa đọa.

Đức Lão Tổ có giáng cơ dạy: “Thời đại ân xá, ai tu cũng có thể được đắc quả. Một việc làm từ thiện dù nhỏ nhen đến mấy đi nữa cũng là việc thiện và được ghi ở hệ số 3” (CQPTGL, 14.2.1972)

Do đó pháp môn tu luyện kỳ này được truyền dạy rộng rãi hơn các kỳ trước. Đạo pháp cũng được giản lược và dễ học dễ hành hơn. Nhứt là đối với người chí tâm cầu đạo, dù chưa đắc quả tại thế, sau khi liễu đạo sẽ được ân xá tiếp tục tu luyện ở cõi vô hình cho đến khi đắc vị, khỏi luân hồi. Đó là những đặc ân hi hữu chỉ có trong kỳ ba mạt kiếp, nên gọi là “Đại ân xá kỳ ba”.
60. Hạ nguơn mạt kiếp là gì ?

Theo giáo lý Cao Đài, lịch sử nhân loại được chia làm ba thời kỳ hay tam nguơn: Thượng nguơn – Trung nguơn – Hạ nguơn.

Thượng nguơn : tức thời Thượng cổ . Đặc điểm chung của loài người thời này là sống hồn nhiên chân thật.
Trung nguơn : tương đương với thời Trung cổ. Đặc điểm chung của thời này là chiến tranh ác liệt từ nội bộ đến nhiều quốc gia. Con người ngày càng đấu tranh dữ dội do tham lam và hận thù.

Hạ nguơn : tương đương với thời cận kim và hiện đại, cùng những thế kỷ tiếp theo sau này. Đây là thời kỳ khoa học kỹ thuật phát triển ngày càng cao độ, nhờ đó nhiều nước tiên tiến có đời sống ngày càng văn minh tiến bộ. Nhưng cũng từ các phát minh khoa học kỹ thuật mà con người chế tạo nhiều vũ khí cực kỳ lợi hại, gây ra nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc. Đó là hậu quả của sự phát triển không cân đối giữa văn minh vật chất và đạo đức tinh thần, đe dọa hủy diệt toàn thế giới. Do vậy hạ nguơn còn gọi là “Hạ nguơn mạt kiếp”

61.Xin cho biết Nhân sinh quan Cao Đài

Trước hết Cao Đài quan niệm thế gian vừa là một học đường vừa là nơi để lập công bồi đức ngõ hầu tiến hóa thêm hơn. Đức Chí Tôn có dạy “thế gian là một trường thi công quả” trong ý nghĩa đó.

Vậy người tín đồ Cao Đài không được yếm thế hay phủ nhận cuộc sống giữa xã hội. Ngược lại phải sống hòa nhập với đời làm tròn các bổn phận đối với bản thân, gia đình và xã hội đất nước, trước khi và trong khi bước sang giai đoạn cầu tu giải thoát.
Trong mối quan hệ gia đình và xã hội – đất nước, tín đồ Cao Đài thực hành Nhơn đạo Khổng giáo để sống có đạo đức. Cũng từ đó, tín đồ Cao Đài rất kính trọng, tôn thờ ông bà tổ tiên cha mẹ cũng như những vị anh hùng dân tộc đã quá vãng.

62. Vậy Cao Đài quan niệm về lý tưởng cuộc sống con người ra sao?

Đạo Cao Đài nêu lên một xã hội loài người lý tưởng là xã hội nhân hòa thánh đức: bao gồm các yếu tố nhân bản, an lạc và tiến bộ.
Đức Chí Tôn có dạy:”Ngày nào các con còn thấy một điều bất bình ở đời thì Đạo chưa thành vậy”.
(TNHT,1973,Q.I,tr.105).
Do đó, Cao Đài phải là một tôn giáo vị nhân sanh, nhằm xây dựng cõi đời hoàn thiện, thế giới đại đồng, bình đẳng.

63. Có thể nói Cao Đài là một tôn giáo nân bản ?

Đúng vậy, Cao Đài quan niệm: “Tôn giáo và chúng sanh là một”.
(TNHT, Q.1, 1973,tr.116).

“Giáo lý Cao Đài không nhất thiết chỉ bảo người đời đi tìm hạnh phúc trong cõi hư vô vĩnh cửu, chốn Niết Bàn cực lạc trong khi nhân sanh còn nghèo đói, bệnh tật, dốt nát, kỳ thị, rẽ chia, người bóc lột người… ” (Quan Âm Bồ Tát, VNT, 25-1-1974)

Một đoạn thánh ngôn khác khẳng định đường lối nhân bản của tôn giáo Cao Đài :

“Dầu ở bất cứ lãnh vực hay hoàn cảnh quốc thổ nào, đời sống tâm linh cũng phải tựa vào nhân bản. Có như vậy, đạo lý tôn giáo mới không rơi vào chỗ mông lung huyễn ngã.”
(LêĐạiTiên,TGST,1970-71, tr.24)

VI. CÁCH THỨC TU HÀNH VÀ GIỮ ĐẠO CỦA NGƯỜI TÍN HỮU CAO ĐÀI ?

64. Cách tu hành của người tín hữu Cao Đài ra sao ?

Cũng như các tôn giáo khác, Đạo Cao Đài có những tín đồ thường và những bậc xuất gia hiến thân hành đạo nơi các Thánh Thất hay Tòa Thánh.
Người tín đồ nhập môn cầu đạo phải giữ Ngũ giới cấm, Tứ đại điều qui với bước đầu ăn chay 6 ngày rồi 10 ngày để tiến dần đến trường chay. Trong khi đó dần dần thực hành công quả, công trình, công phu, từ mức độ dễ tiến lên những mức độ khó hơn, cao hơn để hoàn thiện bản thân.

65. Tam công là gì ?

Tam công gồm :
– Công quả là những việc thiện giúp đời giúp đạo bằng cách cống hiến sở năng sở hữu của mình.

– Công trình là sự rèn luyện những đức tánh tốt, sự cố gắng dứt bỏ những thói hư tật xấu, sự kiên trì tu học để hoàn thiện hóa bản thân.
-Công phu bước đầu là sự cúng kính tứ thời, qua đó người tín đồ tập giữ tâm thanh tịnh, tập trung tinh thần giao cảm với các Đấng Thiêng Liêng. Khi được thọ pháp học thiền rồi thì công phu là quá trình tu luyện thân tâm bằng pháp môn thiền định hầu đạt đến sự giải thoát.
66. Người tín đồ Cao Đài ăn chay như thế nào ?

Sự ăn chay theo đạo Cao Đài cũng như Phật giáo là nhằm giữ giới “bất sát sanh”; hơn nữa còn có ý nghĩa thanh khiết hóa thân tâm con người.
Tín đồ bắt buộc ăn chay ít nhứt 6 ngày mỗi tháng, rồi tăng lên 10 ngày cho đến lúc trường chay.

Ăn chay tức là hoàn toàn dùng thức ăn thực vật, không dùng bất cứ sản phẩm động vật nào, dù nhỏ hay lớn. Người tu đến bậc đại thừa còn kiêng cử cả các gia vị như hành, hẹ, kiệu, tỏi, nén và bơ sửa động vật.

Ăn chay không nhứt thiết phải quá khắc khổ mà vẫn chú trọng sự dinh dưỡng đầy đủ để cơ thể được khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt mới đủ sức đi trọn con đường tu học hành đạo.

67. Thế nào là “tự độ – độ tha” ?

Tự độ độ tha là phương châm “lấy lửa mồi lửa” của Tam Kỳ Phổ Độ để tạo thành một mạng lưới giác ngộ dần dần tỏa rộng khắp nhân loại. Tự độ là tự mình tu tiến, tự hoàn thiện để cầu giải thoát. Nhưng một trong những điều kiện giải thoát là phải lập đủ công đức bằng cách độ cho người khác biết tu hành như mình, gọi là độ tha. Đạo Cao Đài khuyến khích một người độ ít nhứt mười hai người, và cứ thế nhân lên thì số người giác ngộ sẽ tăng gấp bội. Tự độ – độ tha tương dương “Bồ tát hạnh” trong giáo lý nhà Phật. Đạo Cao Đài quan niệm “độ tha” chẳng những là công quả mà còn là sứ mạng, nhứt là đối với những bậc hướng đạo tu đến cấp đại thừa. Đó là Sứ mạng “Thế thiên hành hóa”, thay Trời giáo hóa nhân sanh để lập đời thánh đức thiện lương, nên còn gọi là sứ mạng đại thừa.
68. Sinh hoạt hằng ngày của người tín hữu Cao Đài như thế nào?

Về phần đạo: dâng lễ và đọc kinh tứ thời trước Thiên bàn (bốn lần một ngày : 5 giờ, 11 giờ, 17 giờ, 23 giờ)

Hành lễ tại Thánh Thất một tháng 2 lần: ngày mồng một, ngày 15 âm lịch (ngày Sóc, ngày Vọng) Ngoài ra hằng ngày cần đọc thánh ngôn hiền truyện, tìm hiểu giáo lý để tinh tấn trên đường đạo đức.

Những người đã học đạo pháp, tập thiền thì hằng ngày tịnh tứ thời.
Hơn nữa, tùy hoàn cảnh, người tín hữu có thể tự nguyện lãnh các công quả phục vụ đạo và nhơn sanh hay tương trợ đồng đạo, giúp đỡ người thân những lúc quan hôn tang tế.

Về phần đời: sinh hoạt bình thường như mọi người, làm tròn bổn phận trong gia đình, xã hội, đất nước. Sinh kế phải chọn những nghề lương thiện.

69. Luật đạo Cao Đài qui định về hôn phối ra sao ?

Theo thế luật của Đạo Cao Đài, từ điều thứ 6 đến điều thứ 10 có qui định về hôn phối như sau:

Điều thứ sáu :”Việc hôn là việc rất trọng trong đời người. Phải chọn hôn trong người đồng đạo, trừ ra khi nào người ngoài ưng thuận nhập môn thì mới kết làm giai ngẫu “ (xin xem thêm phần Thế luật)

Điều thứ bảy :”Tám ngày trước lễ sính, chủ hôn trai phải dán bố cáo nơi Thánh Thất sở tại cho bổn đạo hay, sau khỏi điều trắc trở.”
Điều thứ tám :”Làm lễ sính rồi, hai đàng trai và gái phải đến Thánh Thất mà cầu lễ chứng hôn.”

Điều thứ chín :”Cấm người trong đạo, từ ngày ban hành luật này về sau không được cưới hầu thiếp. Rủi có chích lẻ giữa đường thì được chấp nối.”

“Thoảng như phụ nữ kia không con nối hậu thì Thầy cũng rộng cho đặng phép cưới thiếp song chính mình chánh thê đứng cưới mới đặng”.

Điều thứ mười :”Trừ ra có người ngoại tình hay là thất hiếu với công cô, vợ chồng người đạo không được để bỏ nhau”.

70. Tang lễ theo Cao Đài được tổ chức như thế nào ?

– Khi người tín đồ sắp liễu đạo, gia đình cùng đồng đạo đọc Bài kinh lúc hấp hối để trợ lực cho linh hồn thoát xác nhẹ nhàng. Một vị chức sắc sẽ làm phép bí tích lúc này (Phép đoạn nghiệt, chỉ áp dụng cho nguời ăn chay 10 ngày mỗi tháng trở lên)

– Lễ tẩn liệm có đọc bài Kinh tẩn liệm.
Một vị chức sắc sẽ làm phép bí tích (Phép xác hay Phép Vĩnh Sanh) lúc nhập quan.
– Tẩn liệm xong trí linh sàng (đặt bàn thờ) rồi đến lễ phát tang cho tang quyến.
– Khi chưa an táng, mỗi ngày tứ thời đều phải đọc kinh cầu siêu cho người
quá vãng trước Thiên bàn và thân quyến cúng cơm trước linh sàng.
– Trước khi di quan đi an táng, tang quyến đến làm lễ trước linh sàng, đồng đạo đọc bài Kinh động quan.
– Lúc di quan, đọc Kinh đưa linh.
– Tại huyệt, vị chức sắc sẽ làm bí tích trấn thần trong khi đồng đạo đọc kinh hạ rộng.
Kế đến là Kinh từ giã mộ phần.
– Kinh rước linh về nhà
– Đến nhà đọc Kinh an linh sàng.
– Từ đây về sau, Ban lễ của Thánh Thất sẽ đến cúng cửu, cứ 9 ngày một lần kể từ ngày qui liễu, tổng cộng 9 cửu tức 81 ngày (áp dụng cho người ăn chay 10 ngày/ một tháng trở lên).
– 200 ngày sau cửu cuối (chung cửu) cúng lễ Tiểu tường.
– 300 ngày sau Tiểu tường cúng lễ Đại tường.
– Sau Đại tường, gia quyến cúng giỗ hằng năm vào ngày liễu đạo.
Đối với các chức sắc, tang lễ có nghi thức riêng.

71. Người tín đồ Cao Đài thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ quá vãng như thế nào ?

– Người tín đồ Cao Đài thờ cúng ông bà cha mẹ theo truyền thống Nho giáo gọi là giữ đạo Hiếu, để tỏ lòng biết ơn và tôn kính tiền nhân tông tổ.
Trong mỗi gia đình tín đồ, ngoài Thiên bàn thờ Đức Thượng Đế ở nơi trang trọng nhất, còn có các bàn thờ ông bà, cha mẹ (đã quá vãng)

Trên mỗi bàn thờ có đặt bài vị, ghi rõ tên họ ngày tháng quá vãng của ông bà hay cha mẹ và di ảnh của các vị ấy. Ngoài ra tối thiểu phải có một bình hương (nhang), đầy đủ hơn thì có cặp chân đèn và lư đồng.
Hằng ngày, con cháu thắp nhang trên bàn thờ để luôn luôn tưởng nhớ người quá vãng.
Ngày giỗ thì gia đình dâng cúng hoa quả và thức ăn tươm tất (Giáo lý Cao Đài khuyên chỉ cúng chay). Rồi hết thảy con cháu lớn trước nhỏ sau đồng ra thi lễ bái lạy… Sau đó cùng nhau xum vầy dùng cơm chung trong tình ruột thịt đồng huyết thống.

72. Khi nào người tín hữu Cao Đài có thể phế đời hành đạo ?

– Thông thường khi người tín hữu không còn bị ràng buộc bởi các bổn phận đối với gia đình và xã hội, có thể tự nguyện phế đời đến ở tại Thánh Thất hay Tòa Thánh để tu hành lập công bồi đức. Hầu hết những vị này đã đến tuổi hưu trí.
Tuy nhiên, những người tuổi trẻ cũng có thể tự nguyện hiến thân hành đạo, xuất gia vào ở một Thánh Thất để lãnh phận sự và tu hành trọn đời.
PHỤ LỤC

PHÁP CHÁNH TRUYỀN

“ GIÁO TÔNG nghĩa là anh cả các con, có quyền thay mặt Thầy mà dìu dắt các con trên đường đạo và đường đời. Nó có quyền về phần xác chớ không có quyền về phần hồn. Nó đặng phép thông công cùng Tam thập lục thiên và Thất thập nhị địa đặng cầu rỗi cho các con, nghe à ! Chư môn đệ tuân mạng.

CHƯỞNG PHÁP của ba phái là Đạo, Nho, Thích. Pháp luật Tam Giáo tuy phân biệt nhau song trước mặt Thầy vốn coi như một. Chúng nó có quyền xem xét luật lệ trong buổi thi hành hoặc là nơi Giáo Tông chuyển xuống, hay là Đầu Sư dâng lên. Như
hai đàng chẳng tuân thì chúng nó phải dâng lên cho Hộ Pháp đến Hiệp Thiên Đài mà cầu Thầy sửa lại hay là tùy ý mà lập luật lại. Vậy chúng nó có quyền xem xét kinh điển trước khi phổ thông. Như thảng có kinh luật chi làm hại phong hóa thì chúng nó phải trừ bỏ chẳng cho xuất bản. Buộc cả tín đồ phải vừa sức mà hành sự trước mặt luật đời. Thầy khuyên các con rán xúm nhau mà giúp chúng nó. Mỗi Chưởng Pháp có ấn riêng. Ba ấn phải có đủ trên mỗi luật mới đặng thi hành. Chư môn đệ tuân mạng.

ĐẦU SƯ có quyền cai trị phần đạo và phần đời của chư môn đệ. Nó đặng quyền lập luật, song phải dâng lên cho Giáo Tông phê chuẩn. Luật lệ ấy phải xem xét một cách nghiêm ngặt, coi phải có ích cho nhân sanh chăng. Giáo Tông buộc phải giao cho Chưởng Pháp xét nét trước khi phê chuẩn. Chúng nó phải tuân lịnh Giáo Tông, làm y như luật lệ Giáo Tông truyền dạy. Như thảng có luật lệ nào nghịch với sự sinh hoạt của nhơn sanh thì chúng nó được phép nài xin hủy bỏ. Thầy khuyên các con như có điều chi cần yếu thì khá nài xin nơi nó.

Ba chi hơi khác, chớ quyền lực như nhau. Như luật lệ nào Giáo Tông truyền dạy mà cả ba đều ký tên không tuân mạng thì luật lệ ấy phải trả cho Giáo Tông. Giáo Tông truyền lịnh cho Chưởng Pháp xét nét lại. Chúng nó có ba cái ấn riêng nhau, mỗi tờ giấy chi chi phải có ấn mới thi hành, nghe à. Chư môn đệ tuân mạng.

PHỐI SƯ mỗi phái có mười hai người, cộng là ba mươi sáu người. Trong ba mươi sáu vị ấy có ba vị Chánh Phối Sư. Ba vị ấy đặng thế quyền Đầu Sư mà hành sự, song chẳng quyền cầu phá luật lệ, nghe à…! Chư môn đệ tuân mạng.

GIÁO SƯ có bảy mươi hai người trong mỗi phái là hai mươi bốn người.Giáo sư là người dạy dỗ chư môn đệ trong đường đạo với đường đời. Buộc chúng nó lo lắng cho các con như anh ruột lo cho em. Chúng nó cầm sổ bộ của cả tín đồ. Chúng nó phải chăm nom về sự tang hôn của mỗi đứa. Như tại châu thành lớn thì mỗi đứa đặng quyền cai quản cúng tế Thầy như thể Đầu Sư và Phối Sư. Chúng nó đặng quyền dâng sớ cầu nài về luật lệlàm hại nhơn sanh, hay là cầu xin chế giảm luật lệ ấy. Chúng nó phải thân cận với mỗi môn đệ như anh em một nhà cần lo giúp đỡ, nghe à !…. Chư môn đệ tuân mạng.

GIÁO HỮU là người phổ thông chơn đạo của Thầy. Chúng nó đặng quyền xin chế giảm luật lệ đạo. Ba ngàn giáo hữu chia ra đều mỗi phái là một ngàn, chẳng nên tăng thêm hay giảm bớt. Chúng nó đặng phép hành lễ khi làm chủ các chùa trong mấy tỉnh nhỏ.

LỄ SANH là người có hạnh, lựa chọn trong chư môn đệ mà hành lễ. Chúng nó đặng quyền đi khai đàn cho mỗi tín đồ. Thầy dặn các con hiểu rõ rằng Lễ Sanh là người Thầy yêu mến, chẳng nên hiếp đáp chúng nó. Như vào đặng hàng Lễ Sanh mới mong bước qua hàng chức sắc; kỳ dư Thầy phong thưởng riêng mới đi khỏi ngã ấy mà thôi, nghe à….! Chư môn đệ tuân mạng.

ĐẦU SƯ muốn lên CHƯỞNG PHÁP thì nhờ ba vị công cử nhau.
PHỐI SƯ muốn lên ĐẦU SƯ thì nhờ 36 vị kia công cử.
GIÁO SƯ muốn lên PHỐI SƯ thì nhờ 72 vị kia xúm nhau công cử.
GIÁO HỮU muốn lên GIÁO SƯ thì nhờ 3000 vị kia xúm nhau công cử.
LỄ SANH muốn lên GIÁO HỮU thì nhờ cả LỄ SANH xúm nhau công cử.
MÔN ĐỆ muốn lên LỄ SANH thì nhờ cả môn đệ xúm nhau công cử.
Kỳ dư Thầy giáng cơ phong cho người nào thì mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi.
Còn GIÁO TÔNG thì hai phẩm CHƯỞNG PHÁP và ĐẦU SƯ tranh đặng. Song phải chịu cho toàn môn đệ công cử mới đặng, kỳ dư Thầy giáng cơ ban thưởng mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi.
Chư môn đệ tuân mạng !
Thầy ban ơn cho các con.”

                                                                         _______

PHÁP CHÁNH TRUYỀN
HIỆP THIÊN ĐÀI

13 Février 1927 (12.01 Đinh Mão)

“NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ VIẾT CAO ĐÀI GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG
Các con ! Cả chư môn đệ khá tuân mạng !

Hiệp Thiên Đài là nơi Thầy ngự cầm quyền Thiêng Liêng mối Đạo. Hễ Đạo còn thì Hiệp Thiên Đài vẫn còn.

Thầy đã nói Ngũ Chi Đại Đạo bị qui phạm là vì khi trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Chánh giáo mà lập ra phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ cho các con mà thôi, chớ không chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa.

Lại nữa Hiệp thiên Đài là nơi của Giáo Tông đến thông công cùng Tam Thập Lục Thiên, Tam Thiên Thế Giới; Lục Thập Bát Địa cầu, Thập Điện Diêm Cung mà cầu siêu cho cả nhơn loại. Thầy đã nói sở dụng thiêng liêng; Thầy cũng nên nói sở dụng phàm trần của nó nữa.

Hiệp Thiên Đài dưới quyền Hộ Pháp chưởng quản, tả có Thượng Sanh, hữu có Thượng Phẩm. Thầy lại chọn Thập Nhị Thời Quân chia ra làm ba :
Phần của Hộ Pháp, chưởng quyền về pháp thì :

Hậu là Bảo Pháp
Đức là Hiến Pháp
Nghĩa là Khai Pháp
Tràng là Tiếp Pháp

Lo bảo hộ luật đời và luật đạo; chẳng ai qua luật mà Hiệp Thiên Đài chẳng biết.
Thượng Phẩm thì quyền về phần Đạo, dưới quyền :

Chương là Bảo Đạo
Tươi là Hiến Đạo
Đãi là Khai Đạo
Trọng là Tiếp Đạo

Lo về phần Đạo nơi tịnh thất, mấy thánh thất, đều xem sóc chư môn đệ Thầy, binh vực chẳng cho ai phạm luật đến khắc khổ cho đặng.
Thượng Sanh thì lo về phần đời:

Bảo Thế thì Phước
Hiến Thế : Mạnh
Khai Thế : Thâu
Tiếp Thế : Vĩnh

Thầy khuyên các con lấy tánh vô tư mà hành đạo.
Thầy cho các con biết trước rằng : hễ trọng quyền thì ắt có trọng phạt.
Thầy ban ơn các con”

(Trích : Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển 1 Tòa Thánh Tây Ninh tái bản năm Quí Sửu 1973)

_______
NGŨ GIỚI CẤM

Hễ nhập môn rồi phải trau giồi tánh hạnh cần giữ Ngũ Giới Cấm là :

NHỨT BẤT SÁT SANH : Chẳng nên sát hại sanh vật, là không nên giết chết và cũng không nên đánh đập làm cho đau đớn, rên siết, chẳng những người với cầm thú mà thôi, lần lần cũng phải giữ đừng sát hại vô ích cho tới côn trùng và thảo mộc nữa.

NHÌ BẤT DU ĐạO : Cấm trộm cướp, lấy ngang lường gạt của người, hoặc mượn vay không trả, hoặc chứa đồ gian, hoặc lượm lấy của rơi, hoặc sanh lòng tham của quấy, để ý hại cho người mà lợi cho mình, cờ bạc gian lận.

TAM BẤT TÀ DÂM : Cấm lấy vợ người, thả theo đàng điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt.

TỨ BẤT TửU NHụC : Cấm say mê rượu thịt, ăn uống quá độ, rối loạn tâm thần, làm cho náo động xóm làng, hoặc miệng ước rượu ngon, bụng mơ đồ mỹ vị.

NGŨ BẤT VọNG NGữ : là cấm xảo trá, láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng, thô tục, chửi rủa người, hủy báng tôn giáo, nói ra không giữ lời hứa.



TỨ ĐẠI ĐIỀU QUI

Buộc phải trau giồi đức hạnh giữ theo Tứ Đại Điều Qui là :

1. ĐIỀU THỨ NHỨT : Phải tuân lời dạy của bề trên, chẳng hổ chịu cho bực thấp hơn điều độ, lấy lễ hòa người. Lỡ lầm lỗi phải ăn năn chịu thiệt.

2. ĐIỀU THỨ HAI : Chớ khoe tài đừng kiêu ngạo, quên mình làm nên cho người. Giúp người nên đạo, đừng nhớ cừu riêng, chớ che lấp người hiền.
3. ĐIỀU THỨ BA : Bạc tiền xuất nhập phân minh, đừng mượn vay không trả. Đối với trên dưới đừng lờn dễ, trên dạy dưới lấy lễ, dưới gián trên đừng thất khiêm cung.

4. ĐIỀU THỨ TƯ : Trước mặt sau lưng cũng đồng một bực, đừng kính trước rồi lại khi sau. Đừng thấy đồng đạo tranh đua ngồi mà xem không để lời hòa giải. Đừng lấy chung làm riêng, đừng vụ riêng mà bỏ việc chung. Pháp luật phải tuân, đừng lấy ý riêng mà trái trên dễ dưới. Đừng cậy quyền mà yểm tài người.



BAN VĂN HÓA CQPTGL

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s