Nguyên nhân sâu xa về sự xuất hiện Tôn giáo CAO ĐÀI

[Đã cập nhật đầy đủ] Như chúng ta đã biết, có nhiều nhà sử học trong Đạo đã viết về nguyên nhân xuất hiện Tôn giáo CAO ĐÀI. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến hai nguyên nhân chính yếu.

♥ – Nguyên nhân đầu tiên

Nguyên nhân đầu tiên là theo định luật vô thường thì Thế giới ngày nay đang đi vào ngươn điêu tàn theo quy luật “Hình → Trụ → Hoại → Không”.

  • Hình là do các yếu tố hữu duyên hợp lại tác thành hình thể, như xác thân chúng ta là do tứ đại giả hợp (đất, nước, gió, lửa).
  • Trụ là khoảng thời gian những yếu tố này còn trong tình trạng hòa hợp.
  • Hoại là khi các yếu tố này tan rã, bệnh hoạn hư nát.
  • Không là sự liên kết giữa chúng với nhau tuyệt nhiên chấm dứt và hình thể đó không còn tồn tại nữa.

Vậy thì Trái Đất là hành tinh mà chúng ta đang sống cũng mang hình tướng nên chịu chung định luật qua bốn giai đoạn nêu trên. Trong giáo lý CAO ĐÀI, Đức Chí Tôn có dạy:

“Kìa muôn vật ở trong thế giới,
tụ rồi tan có lại thành không;
Dòm xem Thầy muốn não lòng,
Dinh hư tiêu trưởng non sông chắc gì”
(Xem bài Sắc không Luận trang 143 – ĐTCG)

Do đó chẳng lạ gì, gần đây khi theo dõi truyền hình ta thấy trên Thế giới luôn luôn biến động, như động đất, sóng thần, bão lũ, chiến tranh, khủng bố, tai nạn giao thông trên lộ, tàu thuyền bị chìm, máy bay bị nạn trên không trung ngày một nhiều, đó đây xuất hiện nhiều dịch bệnh lạ chưa có thuốc chữa trị, súc vật bị long móng lỡ mồm, nạn đại dịch cúm gia cầm đã xảy ra và Tổ Chức Y Tế Thế Giới vừa cảnh báo sẽ xảy ra tiếp trên quy mô lớn, … đến nỗi mà Đức Mẹ nhiều lần đã than:

“Đành rằng luật xoay vần tạo hóa,
Đành rằng điều vay trả, trả vay;
Nhân kia ai sắp ai bày,
Mà nay Thế giới họa tai dập dồn.”
(Trích Thánh Truyền Trung Hưng)

Trong một lần giáng đàn tại Tiên Thiên Minh Đức, Đức Quan Thế Âm cũng cho biết:

“Đời nhằm lúc phân tranh tiêu diệt,
Ai thấu cơ hư thiệt mà lường;
Liên miên chồng chất tai ương,
Nhân sanh lúng túng trong đường lợi danh.”

Và Đạo Trưởng Huệ Lương sau khi thoát xác đắc phẩm vị Quảng Đức Chơn Tiên về giáng dạy tại Minh Lý Thánh Hội:

“Dù Sáng tạo – Bảo tồn – Hủy diệt,
Một là Ba ai biết lẽ Trời;
Cho hay biến hóa đổi dời,
Là cơ tái tạo lập đời Thượng ngươn.”
(Trích Thánh Truyền Trung Hưng)

Chúng ta còn nhớ, vào thời điểm năm 2000, đây là năm có con số tròn mà là số âm nên nhân sanh lầm tưởng năm này bị tận thế, đó là sự hiểu biết thiếu cơ sở, vì mọi vật chất tụ và tan theo định luật nêu trên thì không phải vật chất bị tan rã cùng lúc mà nó từ từ đi đến sự hủy hoại rồi mới trở về cái không theo bốn giai đoạn “Hình → Trụ → Hoại → Không“, nhưng cái mốc năm 2000 cũng là năm bắt đầu xảy ra các sự cố biến động trên Thế giới. Có lần giáng cơ tại Hườn Cung Đàn, Đức Chúa Kitô đã dạy:

“Trang một ngàn chín trăm sáu chục,
Trong Thánh kinh di chúc của Ta;
Trong hai ngàn năm đó là,
Hạ ngươn tận thế Cha Ta lâm trần.”
(Đức Chúa Kitô giáng dạy tại Hườn Cung Đàn 25/12/1959)

Qua những dẫn chứng trên đây cho thấy chuyển biến thay đổi Càn khôn Thế giới về mặt giáo lý tâm linh. Bây giờ chúng ta thử tham khảo dự báo thay đổi địa cầu theo ý kiến của các nhà khoa học. Trước hết là nhà tiên tri Gardon Seallion. Ông ta là một người dự đoán tương lai Trái đất, là người có nhãn quan tâm linh rất đáng khâm phục. Người ta gọi ông là người có tri giác chính xác trong thời đại ngày nay. Trước đây ông đã đoán trúng các trận động đất xảy ra trên thế giới như ở Los Angeles (Hoa Kỳ) vào ngày 22/11/1992, các trận bão vào năm 1993 hay trận động đất Kobe Nhật ngày 17/01/1995.

Ông Seallion được nhiều hãng truyền hình mời tham gia dự đoán về sự thay đổi địa cầu cho thấy: Khi quan sát mẫu vỏ trái đất các khoa học gia đã khám phá ra từ trường của trái đất thỉnh thoảng bị đảo ngược. Sự đảo ngược gần đây nhất xảy ra khi nhân của trái đất dịch chuyển khỏi vị trí của nó so với vỏ bọc bên ngoài. Các thay đổi của cực mặt trời hoặc vị trí của các hành tinh và mặt trời có thể là nguyên nhân của sự dịch chuyển cực từ trường. Các cuộc nhìn thấy trước đó của ông Seallion cho thấy nguyên nhân chủ yếu của các biến cố lớn làm thay đổi quả đất là do hàng loạt các dịch chuyển cực từ trường. Các dịch chuyển này là một phần của các chu kỳ tự nhiên của hành tinh chúng ta cùng với sự tương tác giữa trái đất, mặt trời và các hành tinh khác.

Các dấu hiệu đầu tiên của một sự chuyển dịch cực từ trường là sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Từ trường Trái đất thay đổi thất thường. Trục Trái đất cũn không ổn định, chuyển dịch theo hướng di trú của các loài chim, loài thú và các hình thái sự sống khác.

Sẽ có 3 cuộc chuyển dịch từ trường của Trái đất. Mỗi cuộc dịch chuyển như thế sẽ làm nghiêng từ 6 độ hay 8 độ về phía Tây. Một khi có cuộc dịch chuyển xảy ra các lục tự nhiên sẽ phản ứng. Dự đoán trong tương lai cho thấy nước Mỹ sẽ chứng kiến đầu tiên sự đổ vỡ của tiểu bang California và sau đó là nước Nhật sẽ bị ảnh hưởng. Thời tiết trở nên thất thường trên toàn cầu.

Do ảnh hưởng môi trường công nghiệp, khí thải bốc lên càng ngày càng nhiều làm hỏng tầng ozon trên vòm trời, nên nhiệt độ bức xạ mặt trời làm cho hành tinh ngày một nóng lên nên các vùng Bắc cực – Nam cực băng tuyết sẽ bắt đầu tan chảy ra làm mực nước biển tăng lên tràn vào các con sông chính gây nên các trận lũ lớn.

Sự chuyển dịch các cực từ trường sẽ dẫn đến sự tăng cường các hoạt động của sự kiến tạo vỏ Trái đất. Khi vỏ Trái đất di chuyển, nó sẽ tạo ra các sóng hạ tầng có ảnh hưởng xấu đến cơ thể con người, khiến chúng ta dễ bị tấn công bởi các bệnh lạ do chưa khám phá ra được các loại vắc-xin đề kháng kịp, cơ thể ảnh hưởng xấu làm cho con người thay đổi tính khí và hay bị bệnh trầm cảm.

Trong khi các sự dịch chuyển của cực Trái đất xảy ra thì mối quan hệ giữa Trái đất và Mặt Trăng sẽ thay đổi, khiến cho quỹ đạo của Mặt Trăng sẽ gần hơn đối với Trái đất. Điều này làm thay đổi tâm tính mang đến âm thịnh dương suy (vì Mặt Trời mang tính chất dương, Mặt Trăng mang tính chất âm).

Theo dõi báo chí ta thấy, trên báo Công An số 1219, ngày 24.02.2004 trích dẫn có tựa đề “Sự thay đổi khí hậu sẽ tàn phá Thế giới”. Qua các mục:

  • Cảnh báo về sự hỗn loạn và chiến tranh hạt nhân.
  • Nước Anh sẽ là “Siberia” thứ hai trong gần 20 năm nữa.
  • Theo báo cáo bí mật của Lầu Năm Góc nói trong vòng 20 năm nữa loài người sẽ gây hấn chiến tranh để tranh giành các nguồn lương thực, nước và nhiên liệu ngày càng khan hiếm.

Các nhà khí hậu học Randall và Schwartz tiết lộ sự thay đổi khí hậu trong 20 năm tới có thể dẫn đến một tai họa toàn cầu cướp đi hàng triệu nhân mạng. Báo cáo cho thấy các thành phố lớn của châu Âu sẽ bị lún xuống, mặt nước biển đang tăng lên dần, hạn hán đến cháy đất, đói và hỗn loạn lan rộng trên khắp thế giới. Sự thay đổi khí hậu bất ngờ có thể đưa hành tinh của chúng ta tới bờ vực thẳm. Các Chính Phủ lo cũng cố vũ khí hạt nhân để phòng thủ và bảo vệ các nguồn lương thực, nước và năng lượng đang ngày một thu hẹp. Không nói đâu xa chỉ trong năm 2005, nạn lụt lội lan rộng do mực nước biển dâng lên sẽ gây ra sự thay đổi lớn đối với hàng triệu người.

Các nhà khí hậu học tin rằng những nhận định của họ có thể là chất xúc tác buộc chính quyền Hoa Kỳ chấp nhận sự thật về thay đổi khí hậu là một thực tế và ký vào nghị định thư toàn cầu để làm giảm mức độ chất thải công nghiệp mà Hoa Kỳ là nước đứng hàng đầu.

Theo nhà khí hậu học Randall và Schwartz, Trái đất của chúng ta đang chứa một số dân lớn hơn nó có thể chứa đựng nên sự thiếu hụt nguồn nước và năng lượng sẽ trở nên thê thảm trong năm 2020. Họ cảnh báo rằng sự thay đổi khí hậu sẽ làm cho mùa màng khắp nơi thất bại, nạn đói, dịch bệnh và dẫn tới sự di dân khổng lồ tạo ra sự hỗn loạn toàn cầu.

Những dẫn chứng trên đây cho thấy đó là nguyên nhân thứ nhất khai mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để đưa nhân sanh trở về thời kỳ Thượng ngươn Thánh Đức. Đức Chí Tôn đã dạy: “Thầy thấy cuộc tuần hoàn biến đổi, thời khí bất hòa, nhơn tâm xu hướng về đường vật chất, bỏ mất tinh thần, nên phạm vào đường tội lỗi, thiệt là đời lầm lũi mãi mà không định hồn tự hối, xúm lấn chen lội lặn tranh giành mùi tục lụy, mà thay đổi chí cao minh. Ba nền Chánh giáo (Nho, Thích, Đạo) đã nghiêng chinh, nhân loại thảy chuộng hữu hình, không cầu vô vi thâm viễn. Nay đã đến cuộc tuần hoàn giáp mối, nên Đạo Trời vận chuyển mà hóa sanh linh”. (Trích ĐTCG)

Trong các thời kỳ, Thương Ngươn là Nhất Kỳ Phổ Độ và Trung Ngươn là Nhị Kỳ Phổ Độ THẦY phân than các hàng Giáo Tổ xuống trần lập Đạo như Nhất Kỳ Phổ Độ, về Phật giáo có Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, Tiên Giáo có Đức Thái Thượng Đạo Tổ, Thánh Giáo có Đức Phục Ky, Đức Moise (mở Thánh Giáo bên nước Do Thái gọi là Do Thái Giáo). Qua Nhị Kỳ Phổ Độ về Phật Giáo có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Tiên Giáo có Đức Lão Tử, Thánh Giáo có Đức Khổng Tử và Đức Jesus Christ mở Thánh Giáo ở Do Thái. Việc này Đức Thái Thượng Đạo Tổ có dạy:

“Cơ Đạo chuyển pháp linh ứng hóa,
Độ quần sinh tất cả an nhàn;
Đời còn tai biến thảm thương,
Người ta ưa chuộng theo đàng hư danh.

Bỏ đạo đức tu hành luyện tập,
Toan lẫn nhau bẫy rập hại đời;
Động long ngôi cả Chúa Trời,
Thương đàn con dại cải lời nhủ khuyên.

Phế Ngọc Kinh giáng miền trần thế,
Đam Đạo mầu phổ tế chúng sanh;
Dạy cho thấu đáo cội nhành
Phục hưng Tam Giáo ban hành lý công.”

(Trích ĐTCG trang 93-94)

♥ – Nguyên nhân thứ hai

Nguyên nhân thứ hai, sau khi các Đấng Giáo Tổ nhập diệt niết bàn, thì lần hồi đội ngũ kế tục làm sai lệch đường lối chơn truyền. Phải nói rằng tôn giáo nào cũng tốt vì “vạn giáo nhất lý”, “tam giáo đồng nguyên” nên có câu: “Tam giáo ngày xưa vốn một nhà, về sau lầm tưởng vọng chia ba.” Và khi các Đấng Giáo Tổ mở Đạo thì mục đích của các Ngài đều nhắm đưa con người đến CHÂN – THIỆN – MỸ. Và tùy theo căn cơ, dân trí, địa phương tại mỗi nơi mà các Đấng lãnh sứ mạng mở Đạo dạy đời. Ví dụ như trong thời Nhị Kỳ Phổ Độ bên xứ Do Thái thì có Đức Chúa Kitô, bên Ấn Độ có Đức Phật Thích Ca, bên Trung Quốc thì có Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử. Việc này có lần Đức Chúa Kitô về giáng dạy nói rõ:

“Lễ Giáng sinh môn đồ thiết lập,

Lòng chí thành bất chấp tư riêng;

Trời cùng với Phật Thánh Tiên,

Xem qua thấu rõ hậu tiền giống nhau.

Về hình thức thì sao cũng khác,

Nhưng tinh thần có lạc sai đâu;

Phần Ta giáng thế trời Âu,

Thích Ca bổn phận độ thâu Ấn Hồi.

Lão và Khổng Tử, rồi phận sự,

Châu Á truyền đạo tự Tiên Nho,

Thế gian ai cũng qua đò,

Sang bờ giác ngạn lần dò đi lên.”

(Đức Chúa Kitô giáng dạy tại Hườn Cung Đàn 24/12/1961)

Nhưng trãi qua nhiều chặn đường lịch sử của thời gian, phần bị chi phối của cảnh đời nhị nguyên nên làm cho con người dụng âm thanh sắc tướng bày ra nhiều điều dị biệt so với chơn truyền. Chẳng hạn như nói đến nhà Phật là người ta liên tưởng đến cảnh tham thiền nhập tịnh, quên đi thế sự thăng trầm, như Đức Phật Thích Ca đã bỏ cung vàng điện ngọc để vào Khổ Hạnh Lâm ngồi dưới gốc bồ đề tư duy thiền định vân “Tâm Không” hầu tìm cho bằng được con đường chơn lý thoát khỏi luân hồi sanh tử. Nhưng sau đó con người dụng âm thanh sắc tướng làm xa lạc “Tâm Không”. Tại Văn Phòng Đại Đạo, vào ngày mùng 06 tháng 08  năm Canh Tuất (1970), Đức Thích Ca Mâu Ni về giáng dạy: “Nhờ tâm giác phóng đại tiền kiếp mà ngày nay tên Ta còn nằm trong lòng chư chúng sanh, điễn quang Ta mãi rọi nơi ác thế ngũ trược vì đại thệ của Ta chưa đạt, bởi chúng sanh còn mê; môn đồ thay thân Ta, mặc y mà hành không y. Thảm thay! Thương thay! Kìa thiên kinh vạn điển, vạn lý nhứt chơn, có đâu mà khó, khó bởi lòng người chẳng chịu định tâm cho chơn như xuất hiện. Vì thế mà chơn giáo của Ta bị chình đổ, không thành. Nay kỳ Hạ ngươn, Đấng Thượng Đế giá lâm, hội Cộng Đồng Tam Giáo Ngũ Chi Đại Đạo để cứu đời, vạn thù quy nhứt bổn. Vậy môn đồ của Ta hãy vô tâm thiền định mà đi ngay vào con đường Đại Đạo, ắt gặp Ta trong ngày cởi xác.”

Về phần Đạo Tiên là xuất thế hành Đạo cũng để tâm “vi vô vi – sự vô sự” quên đi nhân tình thế thái, lo tu chơn dưỡng tánh, tu tánh luyện mạng hầu đắc thành tiên vị. Nhưng về sau người ta do chấp ngã chấp tướng nên bày ra nhiều hình thái yểm mị, trừ ta, lên đồng nhập cốt, hô phong hoán vũ, sử dụng bùa chú thần quyền, bày trò mê tín dị đoan làm sai lạc chơn truyền.

Về Đạo Thánh (Khổng Giáo), Đức Khổng dạy con người theo thuyết chính danh là “Quân quân thần thần phụ phụ tử tử” có nghĩa là “Vua cho ra vua, quan cho ra quan, cha cho ra cha, con cho ra con”, Ngài dạy Tứ thư – Ngũ kinh, Tam tùng tứ đức, Công dung ngôn hành. Ngài dạy con người phải sống theo lẽ công bình “Kỷ sở bất dục – Vật thi ư nhân” là “Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”. Đạo Khổng Thánh trước tiên dạy con người sống cho ra con người, làm tròn bổn phận đối với đất nước, dân tộc, lấy ngũ đức là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín để đối xử với nhau.

Trong cách phổ truyền giáo lý của Khổng Giáo có rất nhiều sách quý răn đời rất hữu dụng. Nhưng lần hồi các nhà Nho về sau lo học để thi làm quan là chính, ít người học tập giáo lý cũng như rao truyền đạo đức cao thâm, vì thời bấy giờ trong nhân gian có câu: “phi cao đẳng bất thành phu phụ”. Phần người ta viết lại các chuyện xưa tích cũ hướng theo thực dụng nên thêu dệt thêm bớt miễn cho cốt truyện hấp dẫn người xem, ngoài cảnh yêu thương, giận hờn, ghen tuông thậm chí pha những hành vi bạo lực như kiếm hiệp, tung chưởng quyết hại đối phương, do đó lần hồi Đạo Khổng cũng sai lạc chơn truyền. Việc này Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy rất rõ như sau:

“Nho Thích Đạo tam tông chưởng Đạo,
Đạt Thiên cơ lập giáo trần ai;
Dùng phương cơ nhiệm hoằng khai,
Lâu năm tâm pháp đổi thay thất truyền.

Pháp Như Lai cửa thiền chế cải,
Dụng hữu hình cho sái Phật tông;
Âm thanh sắc tướng tràn đồng,
Làm cho xa mất chữ KHÔNG đâu rồi.

Đạo Tiên Giáo phục hồi tánh mạng,
Chế ngũ hành tỏ rạng tam nguyên;
Tam thanh tinh luyện đơn,
Lưu hành thiên lý phục hườn nhơn tâm.

Đạo thâm viễn người tầm chẳng thấu,
Lâu ngày dồn ẩn giấu bên trong;
Về sau hậu học bất thông,
Đem ra họa vẽ cua còng lôi thôi.

Nền Khổng Giáo buông trôi ngàn dặm,
Chưng Hũ Nho chác lắm điều hư;
Ôm giềng hậu học khư khư,
Chuộng phần thi cử lợi tư riêng mình.

Nền Tam Giáo phát minh một lúc,
Truyền tinh thần un đúc quốc dân;
Về sau ưa thích truyện gần,
Lâu năm sắp xuống lần lần thất danh.”

(Trích ĐTCG trang 93-94)

Thời đại ngày nau là Tam Kỳ PHổ Độ ứng với Hạ Ngươn “Càn khôn dĩ tận thức” năm châu chung chợ, bốn biển chung nhà nên Đức Chí Tôn mở ra nền Đại Đạo bao gồm hết thảy Tam Giáo và Ngũ Chi đi đến xã hội đại đồng. Đây là thời kỳ phổ độ có trước khi Đại Hội Long Hoa là cuộc phán xét cuối cùng để tận độ toàn cả chúng sanh. Tôn Giáo Cao Đài là con đường sáng đưa con người đến chơn lý. Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy tiếp:

“Nay Chí Tôn lập thành Đại Đạo,
Hiệu Cao Đài phục đáo linh căn;
Trời hôm nhờ ngọn huệ đăng,
Dắt dìu sanh chúng tầm phăng mối giềng.

Nhưng Đại Đạo tách riêng nhiều phái,
Để tùy nhơn không phải thất truyền;
Đạo chia Tiên Hậu nhị thiên,
Về sau siêu thoát tâm truyền cơ quan.

Lánh tục thế tầm đàng đạo đức,
Xa tình đời hiệp nhứt bổn nguyên;
Ngày đêm luyện Đạo tham thiền,
Là cơ xuất thế tiên thiên phục hồi.

Cơ nhập thế trau dồi hạnh đức,
Giữ tam cang tâm nhứt ngũ thường;
Thuận tùng luật chánh làm đường,
Công truyền giáo hóa là phương giúp đời.”

(Trích ĐTCG trang 93-94)

Đứng trước bối cảnh lịch sử đó, ngay sau năm cột mốc giao thời giữa Trung Ngươn và Hạ Ngươn thì Đức Chí Tôn khai mở tôn giáo Cao Đài vào năm Bính Dần 1926, nhưng thực ra Thầy đã về dạy cho Đức Ngô Minh Chiêu từ những năm Canh Thân 1920. Nên Thánh giáo có câu:

“Giờ ta thử truy nguyên nguồn cội,
Năm Canh Thân (1920) mở hội Tam Kỳ;
Cao Đài tân pháp vô vi,
Đức Ngô gặp Đạo tu trì đầu tiên.”

(Thánh Truyền Trung Hưng)

Sang năm Bính Dần 1926, Thầy mở khoa công truyền để truyền Đạo đi khắp nơi:

“Sanh Bính Dần (1926) công truyền mở rộng,
Danh Cao Đài chấn động gần xa;
Pháp quyền sứ mạng ban ra,
Hình thành Thánh Thể, Thánh Tòa Tây Ninh.”

(Thánh Truyền Trung Hưng)

Điều này ứng với lời dạy của Đức Thánh Trần Hưng Đạo:

“Canh Thân hội Thanh Minh chỉ giáo.
Bính Dần thu Đại Đạo ra đời.”

(Thánh Truyền Trung Hưng)

Mở Đạo kỳ này Đức Chí Tôn không giao chánh giáo cho người phàm như trong nhất kỳ và nhị kỳ Phổ Độ, mà chính Ngài xuống mở ra tôn giáo Cao Đài bằng điển quang cơ bút và Ngài xưng là THẦY và gọi nhân sinh bằng từ các con. Khi Đức Chí Tôn và Đức Mẹ (trong dương có âm trong âm có dương) xuống trần mở Đạo thì các đáng Phật Tiên Thánh Thần cùng Thầy giáng cơ dạy cho nhân sanh biết việc lâm trần của Thầy nên trong Thánh Giáo Cao Đài có câu:

“Cao Đài Chúa tể của Càn Khôn,
Khải ngộ nguyên nhân tỉnh mộng hồn;
Phật Thánh Tiên Thần đồng giáng thế,
Cứu đời phổ tế để kim ngôn.”

(Thánh giáo của Đức Chí Tôn)

Bên Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca có dạy:

“Phá chấp ngã sắc không không sắc,
Tâm công bình vị đắc Như Lai;
Thích Ca thị ngã Cao Đài,
Cao Đài thị ngã đổi thay danh từ.”

(Thánh giáo của Đức Phật Thích Ca dạy tại Văn phòng Đại Đạo 16/08/1970)

Bên Tiên Giáo, Đức Thái Thượng giáng dạy:

“Nay Chí Tôn lập thành Đại Đạo,
Hiệu Cao Đài phục đáo linh căn;
Trời hôm nhờ ngọn huệ đăng,
Dắt dìu sanh chúng tầm phăng mối giềng.”

(Trích ĐTCG)

Bên Thánh Giáo, Đức Chúa Kitô giáng dạy:

“Đức Chúa Trời tá danh cứu thế,
Danh Cao Đài Ngọc Đế kỳ ba;
Việt Nam hạnh ngộ Đạo nhà,
Hoàn cầu vạn quốc nhìn Cha là Thầy.

Chư môn đồ từ đây hữu hạnh,
Gặp chơn truyền Đạo chánh ráng tu;
Cho qua thảm trạng mịt mù,
Trở đời Thánh Đức ngao du thanh nhàn.”

(Đức Chúa Kitô giáng dạy tại Hườn Cung Đàn 25/12/1959)

Hiện nay trên thế giới do nhân sanh còn chấp dị biệt nên có hằng ngàn giáo phái, nhưng tôn giáo thì chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vì khi lập nên một tôn giáo thì cần có đủ các tính chất:

  1. Giáo chủ
  2. Giáo lý
  3. Mục đích
  4. Tôn chỉ
  5. Lập trường
  6. Pháp môn

GIÁO CHỦ tôn giáo Cao Đài là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế – Chúa tể Càn Khôn Thế giới – Đấng Đại La Thiên Đế – Hóa dục quần sanh – Đấng thống ngự vạn vật. Do đó, nói đến Giáo Chủ Cao Đài, ta phải biết rằng:

“Ngài là Đấng bao trùm tất cả,
Ngài chở che thượng hạ ta bà;
Cho nên mới gọi Đại La,
Hóa sanh muôn vật bảo hòa vạn dân.

Tuy vắng lặng mà ban nguồn sống,
Cho vạn sinh hoạt động vĩnh tồn;
Tuy rằng vòi vọi nghiêm tôn,
Vật nào phép nấy vẫn không sai lầm.”

(Thánh Giáo do Đức Trần Đoàn Lão Tổ dạy)

Tên gọi đúng của Ngài là ĐẤNG VÔ TRUNG ĐẠI TỪ PHỤ HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG ĐẾ NGỌC HOÀNG ĐẠI THIÊN TÔN, nhưng khi mở ra tôn giáo Cao Đài, thì Ngài có tên gồm 12 chữ “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” thể hiện hàm ý Tam Giáo Đạo. Đức Kristna đã nói: “Những ai biết hướng tâm hồn về Thượng Đế và tôn sùng NGÀI với lòng nhiệt thành, những kẻ đó rất vững bước trên đường Đạo.

Tôn giáo Cao Đài nhờ dùn huyền cơ diệu bút lập Đạo, Đức Chí Tôn và Phật Mẫu cùng chư Tiên Phật luôn luôn giáng dạy và chỉnh đốn mối Đạo mỗi khi gặp một giai đoạn tiến hóa khó khăn. Bởi vậy Đức Chí Tôn có dạy rằng: “Thầy không giao chánh giáo cho tay phàm để càng ngày càng xa lánh Thánh giáo mà biến ra phàm giáo“.

MỤC ĐÍCH của tôn giáo Cao Đài là “Thế Đạo Đại Đồn – Thiên Đạo giải thoát”: tức là tạo lập tại thế gian này một xã hội đại đồng để mọi người sống với nhau trong tình thân ái, hòa hiệp hầu đưa nhơn loại trở về thời kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức. Do đó không phải ngẫu nhiên mà trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có các danh từ: Thánh Ngôn, Thánh Giáo, Tòa Thánh, Thánh Thất, Thánh Tính, Hội Thánh, Thánh Hội, Đền Thánh, Thánh Sở, Thánh Tòa và muốn trở về thời Thánh Đức thì con người phải có Thánh Tâm, mà muốn đạt được sự sum hiệp thì lấy chữ HÒA làm gốc, Thầy và các Đấng kêu gọi nhân sanh tạo thế nhơn hòa. Việc này Đức Chí Tôn dạy:

“Con biết tu Thầy thu lợi bớt,
Tội đủ mười Thầy sớt còn ba;
Nếu con chẳng HIỆP cùng HÒA,
Ba thì cộng bảy con mà còn chi.”

(Thánh giáo của Đức Chí Tôn dạy)

TÔN CHỈ của Đại Đạo là Quy Tam Giáo – Hiệp Ngũ Chi để nhơn loại không còn thấy sự khác biệt về tín ngưỡng, về tôn giáo mà chia rẽ nhau nhằm tiến tới thống nhứt tư tưởng, xây dựng một xã hội đại đồng. Qua đó, ta biết rằng xưa kia TAM GIÁO LÀ MỘT “Tam giáo đồng nguyên – vạn giáo nhứt lý”, về sau do dị biệt nên người đời chấp ngã nên chia làm ba mới có câu: “Tam giáo ngày xưa vốn một nhà. Về sau lầm tưởng vọng chia ba” hay như Đức Chí Tôn đã dạy:

“Phật Trời, Trời Phật cũng là Ta,
Nhánh nhóc chia ba cũng một già;
Thích – Lão – Gia Tô tay chưởng quản,
Thương dân xuống thế độ lần ba.”

Cũng do đẳng bậc của Ngũ chi là Nhơn Đạo – Thần Đạo – Thánh Đạo – Tiên Đạo và Phật Đạo và cũng do sự đối đãi dị biệt của cõi Nhị Nguyên: có cao, có thấp, có dài, có ngắn, có tốt và có xấu nên nhân sanh hay tranh cải phân chia đẳng cấp. Chứ thật sự ra theo triết thuyết “Nhứt bổn tán vạn thù – Vạn thù quy nhứt bổn” ất cả cũng chỉ là MỘT. Trong Thánh ngôn Hiệp Tuyển xuất bản năm Nhâm Tý 1972 (trang 43) Thầy dạy: “Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có Thần – Thánh – Tiên – Phật” và Thầy cũng thường dạy: “Thầy là các con, các con là Thầy” hay:

“Cùng một gốc Thầy chia ba phái (Tam giáo Đạo),
Tùy hội ngươn ban rãi giống lành;
Có Trời mới có chúng sanh,
Có con con mới tu thành Phật Tiên.”

Nên Thầy khuyên chúng ta nên lo tu đừng biện bàn cao thấp rồi chấp ngã chấp tướng làm trở ngại cho việc tu hành. Trong một lần giáng dạy tại Tịnh Đường Hội Thánh Truyền Giáo vào ngày 18/11/1961, Đức Cao Đài Tiên Ông có dạy:

“Cao thấp cần chi phải biện bàn,
Đài Tiên là chỗ Phật thường sang;
Tiên cơ nhờ học thông sanh tử,
Ông bảo lo tu để hưởng nhàn.”

LẬP TRƯỜNG của Đại Đạo là “Thuần Chơn vô ngã” vì muốn đạt được mục đích của Đại Đạo là “Thế Đạo Đại Đồng – Thiên Đạo giải thoát” tức là tạo được thế hòa hiệp thì con người phải quên cái ta, cái bản ngã của mình. Phải khiêm tốn không tự cao tự đại. Việc này Đức Lý Giáo Tông về dạy Tịnh Đường Hội Thánh Truyền Giáo như sau:

“Vô ngã được mới thành đại sự,
Thuần chơn rồi quân tử như hà;
Vô ý vô tất không ta,
Không ta đâu có nói qua nói về.”

Qua đó ta thấy tôn giáo Cao Đài là một nền tôn giáo mới nhưng có một giáo lý và triết lý cao siêu, dung hợp được tất cả các giáo lý và triết lý đã có từ trước đến nau của loài người do Đấng Chúa Tể Càn Khôn Vũ Trụ làm Giáo Chủ. Có Mục đích, Tôn chỉ, Lập trường, Pháp môn hiện thực rõ ràng. Giáo chủ Cao Đài là nguyên căn của các Đấng Giáo Chủ khác, nên thiết lập Giáo lý và Triết lý của tôn giáo Cao Đài rất hoàn chỉnh, giải quyết một cách đầy đủ, hợp lý và thông suốt tất cả những vấn đề về tâm linh. Có một vị Đạo Trưởng sau khi thoát xác về đàn tâm sự:

“Quên sao được Tam Kỳ Đại Đạo,
Hiệp ngũ chi Tam giáo một nhà;
Kết tinh tổng hợp dung hòa,
Thuần chơn vô ngã bao la đại đồng.”

PHÁP MÔN của Đại Đạo là Tam Công. Đây là phương tiện đưa nhơn sanh từ bờ mê qua bến giác, không có pháp môn này thì việc tu hành của con người ở mức độ làm lành hưởng phước theo nghiệp lực, chứ không giải thoát khỏi nghiệp lực. Nên thời kỳ này là thời kỳ ân xá, Thầy cho áp dụng Pháp Môn Tam Công để thoát khỏi luân hồi sanh tử trở về cõi vô sanh như các Đấng đã làm “Thời kỳ ân xá sẵn dành. Cao Đài tân pháp chúng sanh thoát trần”. Và Tam Công là “Công trình – Công quả – Công phu”. Tâm Công hội đường tu dễ dàng.

ĐẠI ĐẠO chính là con đường rộng lớn. Các Đấng Thiêng Liêng theo Thầy giáng trần chung vai gánh vác sức mạng của Đại Đạo. Chúng ta không lạ gì trong kinh sách Cao Đài, ngoài các Đáng Giáo Tổ Phật Tiên Thánh Thần cùng Thầy Mẹ xuống ban Thánh Kinh, Thánh Giáo thì các danh nhân thế giới, các anh hùng dân tộc, các nhà thơ xưa kia của Việt Nam cũng xuống ban dạy kinh sách. Ví dụ như trong kinh Thiên Đạo và Thế Đạo có sự ban kinh của các Đầng và rất nhiều danh nhân, nhưng chỉ nêu ra một vài ví dụ điển hình như nhà văn Pháp xưa kia là Victor Hugo đã nổi tiếng trên toàn thế giới qua tiểu thuyết “Những người khốn khổ”. Ngài là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và Ngài ban kinh cầu siêu, cúng cửu hay như anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, Bà Trưng Trắc cũng thường giáng cơ dạy Đạo, hay như nhà thơ xưa kia của Việt Nam là Đoàn Thị Điểm cũng về giáng dạy kinh cúng cửu.

Chúng ta là nhân sanh được ân sủng của Thầy Mẹ, nhập môn vào tôn giáo Cao Đài, nhưng có khi chúng ta chưa hiểu hết lý diệu huyền của Đạo nên còn chểnh mãng tu hành. Do đó, có lần Thầy trách:

“Huống chi con người tu Đại Đạo,
Dưới chơn Thầy truyền giáo quy nguyên;
Từ trong cửa Phật Thánh Tiên,
Mà không đạt lý diệu huyền hay sao?”

Hay như Đức Mẹ dạy:

“Trên đã có Chí Tôn chỉ lối,
Dưới Phật Tiên tiền bối hộ trì;
Đệ huynh thuận thảo cùng đi,
Bên con có Mẹ lo gì không xong.”

Việc lập tôn giáo Cao Đài tại đất nước Việt Nam là đặc ân của một dân tộc. Vì giáo lý Cao Đài là kế hợp tinh thần văn hiến cũng như kinh sách Cao Đài rất phong phú, dễ hiểu và gần giũ với tâm tư và nếp sống thuần túy của người Việt Nam đã được Thượng Đế xác nhận:

“Trước xây đắp Cao Đài Thánh Đức,
Dựng Nam Bang là nước phóng khai;
Dân Nam sứ mạng Cao Đài,
Năm châu bốn bể hòa hài từ đây.”

Hay là:

“Hảo Nam Bang! Hảo Nam Bang!
Tiểu quốc tỏa khai hội niết bàn
Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo
Hảo phùng Ngọc Đế ngự trần gian.

Hay là:

“Chính mình Thầy đến chốn Nam bang,
Mượn đất đem gieo mối Đạo vàng;
Tưới nước vun phân Nho Thích Lão,
Nâng cành, sửa lá pháp hòa tăng.”

Và Thầy cũng nhắc nhở chúng ta:

“Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên;
Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.”

Đức Lý Giáo Tông đã dạy về nét đặc thù của thời kỳ này như sau: “Tam Kỳ Phổ Độ là một giai đoạn quan trọng trên lịch sử diễn biến của nhân loại trong thời kỳ Hạ Ngươn có một không hai trong quá trình tiến hóa tâm linh nhân loại, vì được diễm phúc hồng ân lớn lao duy nhất Thượng Đế giáng lâm lập Đạo.”

Người hiểu Đạo thì không tự gò bó mình vào mê chấp hạn hẹp, mà phải phá bỏ các rào cản để cùng nhau hòa đồng. Đạo Trưởng Huệ Lương sau khi thoát xác đắc phẩm vị Quảng Đức Chơn Tiên, Ngài có về dạy:

“Không sự thế giới ranh hạn hẹp,
Thì Đạo Trời vui đẹp biết bao;
Cao Đài là cái đài cao,
Vượt lên tất cả đón rào ngăn che.

Thấy tỏ rõ mà nghe thấu suốt,
Có gì đâu hạn cuộc được ta;
Ngoài trời Thượng Đế bao la,
Trong lòng vạn tượng cũng là Chí Tôn.”

Vậy là tín hữu Cao Đài, chúng ta luôn luôn làm theo Ngũ Nguyện:

“Nam mô nhất nguyệt Đại Đạo hoằng khai,
Vì đời nào ngại chông gai dữ lành;
Nhì nguyệt phổ độ chúng sanh,
Quyết đem hoằng hóa Đạo lành giáo dân;
Tam nguyện xá tội bản thân,
Khoan dung phá chấp cõi trần vô minh;
Tứ nguyện Thiên Hạ thái bình,
Tịnh tâm chế ngự muồn nghìn trái oan;
Ngũ nguyệt Thánh Thất bằng an,
Hai ngày sóc vọng đăng đàn thuyết minh;
Trấn an tâm Đạo nhân sinh,
Vai trò un đúc đức tin Đạo đồng.”

(Lời dạy của Đức Đạo Thoàn Chơn Nhơn tại Vĩnh Nguyên Tự)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s